Lời Chúa hằng ngày: Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A (Mt 11,25-30)
“Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”. (Mt 11,30)

BÀI ĐỌC I: Đnl 7, 6-11
“Chúa đã yêu thương và tuyển chọn các ngươi”.
Trích sách Đệ Nhị Luật.
Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Các ngươi là một dân hiến thánh cho Chúa là Thiên Chúa các ngươi. Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã chọn các ngươi để làm dân riêng của Người giữa mọi dân tộc trên mặt đất. Không phải vì các ngươi đông số hơn mọi dân tộc khác mà Thiên Chúa gắn bó với các ngươi và tuyển chọn các ngươi, vì thực ra, các ngươi ít số hơn mọi dân tộc khác; nhưng vì Chúa đã yêu thương các ngươi và giữ lời đã thề hứa với tổ phụ các ngươi rằng: Người dùng tay mạnh mẽ mà dẫn đưa và cứu chuộc các ngươi khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pharaon vua Ai-cập. Các ngươi sẽ biết rằng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, chính Người là Thiên Chúa hùng mạnh, trung thành giữ lời giao ước và lòng thương xót với những kẻ yêu mến Người, và những kẻ tuân giữ lề luật Người cho đến muôn thế hệ. Người báo oán ngay những kẻ thù ghét Người, bằng cách tiêu diệt chúng không trì hoãn, trả báo tức khắc như chúng đã đáng tội. Vì vậy các ngươi hãy tuân giữ điều răn, nghi lễ và lề luật mà ta truyền cho các ngươi hôm nay, để các ngươi thi hành”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 102, 1-2. 3-4. 6-7. 8 và 10
Đáp:Lòng yêu thương của Chúa vẫn tồn tại, từ thuở này tới thuở kia cho những ai kính sợ Người (c. 17).
Xướng:
1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa! Toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người. - Đáp.
2) Người đã thứ tha cho (ngươi) mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân, Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng. - Đáp.
3) Chúa thi hành những việc công minh, và trả lại quyền lợi cho những người bị ức. Người tỏ cho Môsê được hay đường lối, tỏ công cuộc Người cho con cái Israel. - Đáp.
4) Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Ga 4, 7-16
“Thiên Chúa thương yêu chúng ta trước”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Các con thân mến, chúng ta phải thương yêu nhau, vì tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra. Vì lẽ hễ ai thương yêu, thì đã sinh bởi Thiên Chúa, và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu.
Điều này biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta: là Thiên Chúa chúng ta đã sai Con Một Người đến trong thế gian, để nhờ Ngài mà chúng ta được sống. Tình yêu ấy là thế này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta.
Các con thân mến, nếu Thiên Chúa thương yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải thương yêu nhau. Chẳng ai thấy Thiên Chúa bao giờ, nếu chúng ta thương yêu nhau, thì Thiên Chúa ở trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta đã được tuyệt hảo. Do điều này mà chúng ta biết chúng ta ở trong Người và Người ở trong chúng ta: là Người đã ban Thánh Thần cho chúng ta. Và chúng ta đã thấy và chứng nhận rằng Chúa Cha đã sai Con mình làm Đấng Cứu Thế.
Ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa ở trong người ấy, và người ấy ở trong Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta đã biết và tin vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thiên Chúa là Tình Yêu, và ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy.
Đó là lời Chúa.
Tin mừng: Mt 11, 25-30
Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng nói rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn.
Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ mà Con muốn mạc khải cho.
“Tất cả hãy đến cùng Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi.
Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.
Giáo lý cho bài giảng lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A
Số 210-211, 604: Lòng Chúa Thương Xót
210.Sau khi dân Israel phạm tội, chối bỏ Thiên Chúađể quay sang thờ con bê bằng vàng [1] , Thiên Chúa đã nghe lời chuyển cầucủa ông Môisen và chấp nhận đồng hành giữa đám dânbất trung, qua đó biểu lộ tình yêu của Ngài [2] . Khiông Môisen xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Ngài trả lời: “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là Chúa [YHWH] trước mặt ngươi"(Xh 33,18-l9). Và Chúa đi qua trước mặt ông Môisenvà hô to: “Chúa, Chúa [YHWH,YHWH], Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,5-6). Lúc đó ông Môisen tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa hay tha thứ [3] .
211. Thánh Danh “Ta Hiện Hữu” hoặc “Đấng Hiện Hữu” diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng “giữlòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ” (Xh 34,7) cho dù conngười có bất trung, tội lỗi, đáng phải trừng phạt. ThiênChúa mạc khải rằng Ngài “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4), đến noi trao ban chính Con Một của Ngài. Chúa Giêsu, khihiến mạng sống mình để giải thoát chúng ta khỏi tộilỗi, sẽ mạc khải rằng chính Ngườimang danh thánh của Thiên Chúa: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là ‘Tôi Hiện Hữu’” (Ga 8,28).
604. Khi trao nộp Con của Ngài vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa biểu lộ kế hoạch của Ngài là một kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10) [4] . “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8).
Số 430, 478, 545, 589, 1365, 1439, 1825, 1846: Tình yêu của Đức Kitô dành cho tất cả mọi người
430. Trong tiếng Do thái, “Giêsu” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Khi Truyền tin, thiên thần Gabriel dạy đặt tên cho Người là Giêsu; tên gọi này vừa diễn tả căn tính của Người, vừa diễn tả sứ vụ của Người [5] . Bởi vì không ai “có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa” (Mc 2,7), cho nên, trong Chúa Giêsu là Con vĩnh cửu của Ngài, đã làm người, chính Thiên Chúa “sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Như vậy, nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa tóm kết toàn bộ lịch sử cứu độ của Ngài cho nhân loại.
478. Trong cuộc đời của Người, trong lúc Người hấp hối và trong lúc Người chịu khổ nạn, Chúa Giêsu biết và yêu thương mọi người và từng người chúng ta, và Người đã tự hiến mạng vì mỗi người chúng ta. Con Thiên Chúa “đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người đã yêu mến tất cả chúng ta bằng một trái tim nhân loại. Do đó Trái Tim cực thánh của Chúa Giêsu, bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta và để cứu độ chúng ta [6] , “được coi là dấu chỉ và biểu tượng đặc biệt của tình yêu, qua đó Đấng Cứu Chuộc thần linh hằng liên lỉ yêu mến Chúa Cha vĩnh cửu và yêu mến tất cả mọi người” [7].
545. Chúa Giêsu mời những kẻ tội lỗi vào bàn tiệc Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17) [8] . Người mời gọi họ hối cải, vì không hối cải thì không thể vào Nước Người, nhưng Người cũng dùng lời nói và hành động cho họ thấy lòng thương xót vô biên của Cha Người đối với họ [9] , và “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc l5,7). Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này, là việc Người dâng hiến mạng sống mình “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
589. Chúa Giêsu đã là cớ vấp phạm đặc biệt bởi vì Người đã đồng hóa cách xử sự nhân từ của Người đối với các tội nhân, với cách xử sự của chính Thiên Chúa đối với họ [10] . Người còn đi đến chỗ muốn cho người ta hiểu rằng, qua việc Người đồng bàn với các tội nhân [11] , Người đón nhận những người đó vào bàn tiệc của Đấng Messia [12] . Nhưng đặc biệt khi Người tha tội, Chúa Giêsu đã đặt các nhà cầm quyền tôn giáo của Israel trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Họ đã chẳng sửng sốt nói rất đúng sao: “Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (Mc 2,7)? Chúa Giêsu, khi Người tha tội, thì hoặc là Người nói phạm thượng, bởi vì là người mà dám coi mình ngang hàng với Thiên Chúa [13] , hoặc là Người nói đúng, thì như vậy, Con Người của Người làm hiện diện và mạc khải thánh Danh của Thiên Chúa [14] .
1365. Bởi vì là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, nên bí tích Thánh Thể cũng là một hy tế. Tính chất hy tế của bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính các lời thiết lập bí tích này: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”. “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,19-20). Trong bí tích Thánh Thể, Đức Kitô ban chính thân mình đã bị nộp vì chúng ta trên thập giá, ban chính máu mà Người đã đổ ra “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
1439. Chúa Giêsu đã mô tả tiến trình hối cải và thống hối một cách tuyệt vời trong dụ ngôn quen được gọi là dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” mà trọng tâm của nó là “Người cha nhân hậu” [15] : sự quyến rũ của một thứ tự do sai lạc, việc rời bỏ nhà cha; sự đau khổ cùng cực sau khi phung phí tất cả tài sản; sự nhục nhã sâu xa khi thấy mình phải đi chăn heo, và còn tệ hơn nữa, ước muốn ăn cám heo mà không được; việc suy nghĩ lại về những điều thiện hảo đã bị đánh mất; sự hối hận và quyết định nhận mình có lỗi trước mặt cha; con đường trở về; việc đón nhận bao dung của người cha; niềm vui của người cha: Đó là những nét tiêu biểu của tiến trình hối cải. Áo đẹp, nhẫn và tiệc mừng là những biểu tượng của một đời sống mới, thanh sạch. xứng đáng, tràn ngập niềm vui, đó là đời sống của người trở về cùng Thiên Chúa, giữa lòng gia đình của Ngài, là Hội Thánh. Chỉ trái tim Đức Kitô, Đấng thấu suốt các tầng sâu thẳm của tình yêu của Cha Người, mới có thể mạc khải cho chúng ta tận đáy lòng thương xót của Thiên Chúa một cách đơn sơ và đầy vẻ đẹp như vậy.
1825. Đức Kitô đã chịu chết vì yêu mến chúng ta, khi chúng ta còn là “thù nghịch” (Rm 5,10). Chúa đòi chúng ta rằng, cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù của chúng ta [16] , rằng chúng ta phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa nhất [17] , rằng chúng ta phải yêu thương trẻ em [18] và người nghèo như chính Người [19] .
Thánh Tông Đồ Phaolô đã mô tả một cách tuyệt vời về đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
1846. Tin Mừng là sự mạc khải, trong Chúa Giêsu Kitô, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với các tội nhân [20] . Thiên thần loan báo điều này cho ông Giuse: “Ông phải đặt tên con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Cũng chính điều đó được nói đến trong Thánh Thể, bí tích của Ơn cứu chuộc: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
Số 2669: Trái Tim Đức Kitô đáng tôn thờ
2669. Cũng như việc khẩn nguyện Danh cực thánh của Chúa Giêsu, kinh nguyện của Hội Thánh còn tôn sùng Thánh Tâm Người. Việc tôn sùng này tôn thờ Ngôi Lời Nhập Thể và Thánh Tâm của Người, Thánh Tâm vì yêu thương loài người, đã để cho bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta. Kinh nguyện Kitô giáo cũng mộ mến đi Đàng Thánh Giá, theo chân Đấng cứu độ. Các chặng từ dinh Tổng trấn đến đồi Gôlgôtha và Mộ Thánh làm thành con đường của Chúa Giêsu, Đấng đã cứu chuộc trần gian bằng thánh giá của Người.
Số 766, 1225: Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô
766. Nhưng Hội Thánh được sinh ra một cách chủ yếu từ việc hiến thân trọn vẹn của Đức Kitô để cứu độ chúng ta, việc hiến thân ấy được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên thập giá. “Sự khởi đầu và tăng trưởng của Hội Thánh được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá” [21] . “Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Hội Thánh”. [22] Như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Hội Thánh được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô chết trên thập giá [23] .
1225. Trong cuộc Vượt Qua của mình, Đức Kitô đã khai mở các nguồn mạch của bí tích Rửa Tội cho tất cả mọi người. Quả vậy, Người đã nói về cuộc khổ nạn Người sẽ phải chịu tại Giêrusalem như một “Phép Rửa” mà Người phải lãnh nhận [24] . Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu chịu đóng đinh [25] , là những điển hình của bí tích Rửa Tội và Thánh Thể, là những bí tích của đời sống mới [26] : từ lúc đó, người ta có thể được “sinh ra bởi nước và Thần Khí” để vào Nước Thiên Chúa (Ga 3,5).
“Hãy xem, bạn được rửa tội ở đâu, bí tích Rửa Tội là từ đâu nếu không phải là từ Thánh Giá của Đức Kitô, từ sự chết của Người. Toàn bộ mầu nhiệm là ở đó, bởi vì Người đã chịu khổ hình vì bạn. Trong Người, bạn được cứu chuộc; trong Người, bạn được cứu độ” [27] .
Số 1432, 2100: Tình yêu của Đức Kitô lay động tâm hồn chúng ta
1432. Lòng người nặng nề và cứng cỏi. Con người phải được Thiên Chúa ban cho một trái tim mới [28] . Hối cải trước hết là công trình của ân sủng của Thiên Chúa, Đấng làm cho lòng chúng ta trở lại với Ngài: “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Chúa, để chúng con trở về” (Ac 5,21). Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta bắt đầu lại. Tâm hồn chúng ta, một khi khám phá ra sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa, sẽ bị chấn động vì sự khủng khiếp và nặng nề của tội lỗi và bắt đầu sợ không dám phạm tội xúc phạm Thiên Chúa và sợ bị xa lìa Ngài. Lòng người hối cải, khi nhìn lên Đấng đã bị tội lỗi chúng ta đâm thâu [29] .
“Hãy chiêm ngắm Máu Đức Kitô và nhận biết rằng Máu ấy quý giá biết bao đối với Thiên Chúa là Cha Người, Máu ấy, khi đổ ra để cứu độ chúng ta, đã mang lại cho toàn thế giới ơn thống hối” [30] .
2100. Hy lễ bên ngoài, để có thể là hy lễ thật, phải là sự diễn tả của hy lễ tinh thần: “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát ...” (Tv 51,19). Các tiên tri thời Giao Ước cũ thường tố cáo các hy lễ được thực hiện mà không có sự tham dự nội tâm [31] hay không được liên kết với tình yêu đối với người lân cận [32] . Chúa Giêsu nhắc lại lời của tiên tri Ôsê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13; 12,7) [33] . Chỉ có một hy lễ trọn hảo duy nhất là hy lễ Đức Kitô đã dâng trên thập giá, bằng sự tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu độ chúng ta [34] . Khi chúng ta kết hợp mình với hy lễ của Người, chúng ta có thể biến cuộc đời mình thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa.
Bài giảng Đức Thánh Cha - Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A (03/7/2011) - Cái nhìn của Chúa Giêsu
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm A (01/6/2008) - Mỗi người cần cái tâm
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người. Tình yêu ấy luôn hiện diện sống động cụ thể nơi Chúa Giêsu, khi Ngài cùng chia sẻ thân phận con người với chúng ta.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, trái tim Chúa thật nhạy cảm trước nỗi thống khổ của con. Chúa biết rõ những gánh nặng của cuộc đời con: những gánh nặng bệnh tật, gánh nặng khổ đau, gánh nặng công việc bổn phận… và Chúa đã ghé vai chia sẻ với con tất cả những gánh nặng ấy.
Lạy Chúa Giêsu, đau khổ trở thành gánh nặng cuộc đời, nhưng đau khổ cũng có giá trị thanh luyện con. Khi gặp thử thách, con nhận biết giới hạn của chính mình để chỉ cậy dựa hoàn toàn nơi lòng nhân từ Chúa. Khi trải qua những gánh nặng bổn phận hàng ngày, con càng hân hoan vui sướng được Chúa chia sẻ nâng đỡ. Chúa đến trần gian không phải để giải thoát con khỏi những đau thương thử thách. Nhưng Chúa đến để hiện diện và cùng chia sẻ với con tất cả mọi đau thương trong cuộc sống. Tâm hồn Chúa cũng cảm thấy bồn chồn lo âu khi đối diện với những gánh nặng cuộc đời. Nhưng Chúa đã phó thác tất cả trong tay Chúa Cha.
Lạy Chúa, con tin tưởng nơi tình yêu của Chúa. Con tự nguyện sẵn sàng đón nhận cuộc sống của con với tất cả lòng mến. Xin cho con biết nghe tiếng Chúa mời gọi, để giữa những vất vả khổ đau, con biết đến với Chúa trong những phút cầu nguyện và nhất là trong Thánh lễ, để trao vào trái tim Chúa tất cả gánh nặng của cuộc sống con. Vì con tin chắc rằng Chúa đang hiện diện và chia sẻ cuộc sống với con. Amen.
Ghi nhớ : “Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”.
Suy niệm (Lm Ignatio Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Đnl 7,6-11
1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Đệ nhị luật, là quyển sách cuối cùng trong bộ Ngũ Thư (Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số, Đệ nhị luật). Đệ nhị luật thật sự là một quyển sách độc đáo, tạo nên một truyền thống bao trùm một phần lớn văn chương Do-thái giáo. Tuy nhiên, Đệ nhị luật được đặt ở vị trí cuối bộ Ngũ Thư, vì toàn bộ những sách này ghi lại nguồn gốc và giai đoạn đầu của lịch sử dân Ít-ra-en, trong đó gương mặt nổi bật của ông Mô-sê có một ảnh hưởng độc nhất vô nhị, được Đệ nhị luật làm rực sáng lên với những nét mạnh mẽ, bi hùng, và tiễn đưa vào cõi vĩnh hằng với một niềm cảm phục sâu xa. Có thể nói sách Đệ nhị luật là kết tinh của Do-thái giáo, trong kết cấu chặt chẽ giữa phần nội tâm (là lòng gắn bó với Thiên Chúa) và luật pháp của Người, với phần ngoại diện (là một xã hội trung kiên trong đức tin qua những trang lịch sử đầy biến động).
2. Vậy điều gì đã nâng Do-thái giáo lên một trình độ như thế ? Thưa là giáo lý toát ra từ các diễn từ đặt trên môi miệng ông Mô-sê, và có thể thâu tóm lại trong các đề cương sau đây : một Thiên Chúa duy nhất, một nơi thờ phượng duy nhất, một tình yêu thương chung thuỷ đã tuyển chọn một dân riêng, lập với dân một Giao ước, ban hành cho dân luật yêu thương, ban tặng cho dân một miền đất màu mỡ, một vị trung gian xuất chúng : ông Mô-sê, qua một bộ sách luật. Bài đọc 1 hôm nay là một phần trong bài diễn từ thứ hai của ông Mô-sê, trong đó ông nhắc lại cho dân Ít-ra-en nhớ rằng họ là một dân thánh hiến cho Thiên Chúa. Vì yêu thương mà Chúa đã chọn họ giữa muôn dân trên mặt đất để làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. Cũng vì yêu thương mà Chúa đã giải thoát tổ tiên họ khỏi ách nô lệ Ai-cập và ban cho một đất làm sở hữu. Ông cũng cho dân biết Đức Chúa là Thiên Chúa thật, là Đấng trung thành cho đến muôn ngàn thế hệ. Người luôn giữ Giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ của Người.
Đáp ca : Tv 102
Thánh vịnh 102 là một thánh vịnh ca tụng Chúa khoan dung. Phụng vụ Chúa nhật hôm nay chỉ đề nghị ta đọc 8 trong số 22 câu của thánh vịnh này. Một chuyên viên Kinh Thánh, ông André Chouraqui nói rằng thánh vịnh 102 là một kinh “Te Deum” của Kinh Thánh, một bài ca tạ ơn vì mọi lời chúc phúc dành cho tác giả (dân Ít-ra-en) được đầy tràn ơn lành từ Thiên Chúa. Không phải ngẫu nhiên mà thánh vịnh này đề cập đến sự kính sợ Chúa mà lại trích một câu bất hủ của sách Xuất hành : “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Xh 34,6). Đây là một câu rất nổi tiếng trong Kinh Thánh, vì đây là lời mặc khải của chính Thiên Chúa dành cho ông Mô-sê khi Người đi qua ông trong sa mạc Xi-nai. Câu này thường được đọc trong các thánh vịnh, vì vừa là tên của Thiên Chúa, vừa để nhắc lại Giao ước. Các câu thánh vịnh được chọn hôm nay nhấn mạnh đến những biểu hiện về tình yêu nồng nàn của Thiên Chúa, đó là sự tha thứ : “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi.” Một Thiên Chúa chậm giận, dân Ít-ra-en từng trải nghiệm suốt dòng lịch sử của họ : từ khi vượt qua sa mạc Xi-nai, ông Mô-sê đã từng phải cảnh cáo họ : “Anh em phải nhớ, đừng quên rằng anh em đã chọc giận Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, trong sa mạc. Từ ngày anh em ra khỏi đất Ai-cập cho đến khi tới đây, anh em đã phản nghịch chống lại Đức Chúa” (Đnl 9,7). Suốt dòng lịch sử của Giao ước là một chuỗi dài sự tha thứ của Thiên Chúa cho dân Ít-ra-en mỗi khi họ phạm tội. “Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.” Tình yêu trìu mến chúng ta cần nhất để trỗi dậy chính là được quên đi tội lỗi của chúng ta mỗi khi chúng ta sa ngã, mà dụ ngôn người Cha nhân hậu trong chương 15 Tin Mừng Lu-ca là một ví dụ điển hình.
Bài đọc 2 : 1 Ga 4,7-16
1. Bài đọc 2 hôm nay toàn là nói về tình yêu, có thể nói là trong từng hàng, nhưng chúng ta đừng lầm tưởng rằng thánh Gio-an đang sống trong một cộng đoàn tuyệt vời, chỉ gặp toàn là màu hồng. Thưa không phải như vậy đâu. Cộng đoàn mà thánh Gio-an viết bức thư này đang gặp khủng hoảng trầm trọng. Đủ loại ngôn sứ giả xuất hiện làm lệch lạc niềm tin của các tín hữu trong những cuộc tranh luận bất tận về thần học. Vào thời điểm đó, người ta quên đi vấn đề chính yếu là Thiên Chúa, hay nói cách khác, đó là Tình Yêu. Ta có thể tóm tắt bản văn này như sau : Thiên Chúa là Tình Yêu. Tất cả tình yêu của con người đều phát xuất từ Thiên Chúa.
2. Thánh Gio-an nói, anh em tìm hiểu về Thiên Chúa, việc đó là đáng khuyến khích, nhưng anh em đừng có sa vào những cuộc tranh luận vô bổ. Ta biết Thiên Chúa là Tình Yêu, đơn giản thế thôi, và tình yêu nơi mỗi người chúng ta đều phát xuất từ Thiên Chúa.
Có một bài hát rất cổ trong Giáo Hội nói rằng : “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời.” Câu trên cũng có thể là của thánh Gio-an, vì ngài cũng nói tương tự : “Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa.” Chúng ta có một tiêu chuẩn hết sức đơn giản và rõ ràng để đánh giá những việc làm của chúng ta và những gì chúng ta thấy cần phải làm. Ở đây là cả một nền giáo dục về cái nhìn. Hình như đó là bài học quan trọng mà thánh Gio-an muốn gửi đến các tín hữu. Có lẽ đó cũng là nhiệm vụ của người tín hữu : vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, nên chúng ta cũng phải yêu thương nhau, tình yêu đó biểu lộ qua cái nhìn, qua cách ứng xử trong cuộc sống thường ngày.
3. Chính trong nghĩa này mà Đức Giê-su đã nói : “Nước Thiên Chúa ở giữa các ông.” Điều đó có giá trị trong mọi thời đại, đối với tất cả mọi người hiện diện trên trái đất này. Nếu chúng ta biết mở to đôi mắt để nhìn, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta chiêm ngắm biết bao kỳ công của Chúa.
Trong Cựu Ước, mọi người đều hiểu rõ rằng biết Chúa và yêu Chúa chỉ là một việc và một ngày nào đó nhân loại sẽ thật sự nhận biết Chúa, và trở nên thân thiết với nhau : ngôn sứ I-sai-a nói về viễn cảnh hoà bình này trong câu chuyện ngụ ngôn các con vật : “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,6-9).
4. Đó chính là kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại từ đời đời, một kế hoạch hài hoà phổ quát. Cũng trong bản văn này, thánh Gio-an đã nói : “Quả thế, đây là lời loan báo anh em đã nghe từ lúc khởi đầu : chúng ta hãy yêu thương nhau” (1 Ga 3,11). Từ lúc khởi đầu nghĩa là từ nguyên thuỷ. Chúng ta cũng đọc trong thư thứ nhất của thánh Gio-an : “Đây là điều răn của Người : Chúng ta phải tin vào danh Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người, và phải yêu thương nhau theo điều răn Người đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3,23). Rồi thánh Gio-an tiếp tục : “Đây là cách Thiên Chúa đã tỏ tình yêu của Người dành cho chúng ta : Thiên Chúa đã sai Con Một duy nhất của Người đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Người.” Ở đây chúng ta nghe vang lên lời thánh Gio-an trong Tin Mừng thứ tư : “Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha sai đến, là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3). Sống (theo nghĩa sự sống đời đời) là nhận biết Thiên Chúa, và để chúng ta nhận biết Người thật sự là Đấng nào, chứ không phải là Đấng chúng ta tưởng tượng ra. Người đã sai Con của Người đến thế gian.
Thiên Chúa là Đấng ta không thể thấy được, vậy ta có thể biết Người bằng cách nào ? Thưa, nơi Đức Giê-su, vì Người là Thiên Chúa làm người, và rồi chúng ta thấy Thiên Chúa nơi dung mạo của một con người và trong những cử chỉ của con người : “Thiên Chúa đã sai Con duy nhất của Người đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Người”, nghĩa là để chúng ta nhận biết Người. Cả cuộc đời của mình, Đức Giê-su đã mặc khải bằng lời nói cũng như việc làm tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại : những lời nói mặc khải và những lời nói tha thứ, những cử chỉ chữa lành và trấn an. Buổi chiều cuối cùng, thánh Gio-an kể rằng, Đức Giê-su để lại cho các Tông Đồ một cử chỉ cuối cùng còn quan trọng hơn lời nói của Người nữa : “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng ... Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13,1-5). Đó là một bài học về phục vụ cho tất cả chúng ta : “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,13). Hãy lắng nghe lời Chúa và thực hành như vậy.
Bài Tin Mừng : Mt 11,25-30
1. Lời Chúa trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe gợi lại chuyện các thiếu niên Do-thái trong sách Đa-ni-en, giải thích ý nghĩa giấc chiêm bao của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo mà tất cả các nhà thông thái Ba-by-lon đều không giải thích được, nhờ ơn mặc khải của Thiên Chúa. Nhà vua nhìn thấy trong giấc chiêm bao một pho tượng kỳ quái : Đầu pho tượng ấy bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và hai bắp đùi bằng đồng, hai bắp chân bằng sắt, hai bàn chân nửa sắt nửa sành. Ngài đang mải nhìn thì bỗng có một tảng đá tách ra, dù không có bàn tay nào đụng tới, nó đập vào pho tượng trúng hai chân nửa sắt nửa sành khiến hai bàn chân vỡ tan ra. Bấy giờ tất cả cùng vỡ tan : cả sắt, sành, đồng, bạc lẫn vàng, giống như rơm rác trên sân phơi lúa mùa hè bị gió cuốn đi không để lại dấu vết gì. Còn tảng đá làm vỡ pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn, choáng hết mặt đất. Và đây là ý nghĩa của giấc chiêm bao : Đức Chúa Trời đã ban cho vua vương quốc, quyền hành, thế lực và vinh quang, và cho ngài làm chúa tể muôn loài. Cái đầu bằng vàng chính là ngài. Sau triều đại của ngài, sẽ xuất hiện một vương quốc khác kém hơn ngài. Rồi một vương quốc thứ ba nữa, vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị cả mặt đất. Còn vương quốc thứ tư vững như sắt. Cũng như sắt nghiền nát và đập tan tất cả, thì vương quốc thứ tư này sẽ đập tan tất cả các vương quốc trước đó. Trong giấc chiêm bao, chúng ta thấy bốn loại kim khí được kể theo thứ tự giảm dần : vàng, bạc, đồng, sắt, chỉ bốn vương quốc : Ba-by-lon (đầu bằng vàng) ; Mê-đi-a (ngực và hai cánh tay bằng bạc – một vương quốc khác) ; vương quốc thứ ba là Ba-tư (bụng và bắp đùi bằng đồng) ; Hy-lạp (hai bắp chân bằng sắt). Còn hai bàn chân nửa sắt nửa sành (= nửa bằng đất sét) chỉ vương quốc Hy-lạp sẽ bị phân chia sau khi A-lê-xan-đê đại đế băng hà, từ năm 305 trở đi, vương quốc Hy-lạp chia làm hai : vương quốc do nhà Xê-lêu-cô cai trị, gọi là vương quốc mạnh, và vương quốc do nhà La-gô cai trị được gọi là vương quốc yếu. Vương quốc đập tan tất cả các vương quốc khác, đó là vương quốc Mê-si-a, vương quốc cánh chung.
Cũng thế, Chúa Giê-su ngợi khen Thiên Chúa là Cha đã tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn, tức là những kẻ tin theo và chỉ biết lệ thuộc vào người lớn. Ở đây, Chúa Giê-su cũng cho thấy Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho Người, nhất là cho Người biết Cha để rồi Người mặc khải cho người ta, nghĩa là để làm cho người ta được sống đời đời. Như thế, chính Chúa Giê-su là Con Người của sách Đa-ni-en, ở đây xuất hiện dưới danh xưng Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Những người này cũng là những kẻ vất vả, mang gánh nặng nề mà Chúa Giê-su kêu gọi đến với Người. Trước tiên, đây hiểu về những người Do-thái sống dưới ách của Lề Luật cũ và vô vàn vô số những tập tục nặng nề mà các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã đặt ra. Nhưng cũng hiểu rộng ra về kiếp sống con người trên trần gian này nói chung.
Mang lấy ách của tôi là một kiểu nói bóng các thầy Ráp-bi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai làm Thầy. Ách / gánh của Chúa Giê-su là đạo lý Tin Mừng. Có thể nói đạo lý này tổng hợp trong ba điểm : tin (trở thành môn đệ, thụ giáo với Chúa), khiêm nhường (thái độ đối với Chúa), hiền lành (thái độ đối với tha nhân) như Chúa Giê-su.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết noi gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã sống hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giê-su chưa ?
Suy niệm (Lm. Gioan Baotixita Nguyễn Văn Hiếu)
A- NHẬP LỄ
Hằng năm, cứ đến Chúa Nhật thứ II sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, vào thứ Sáu trong tuần này, Giáo Hội lại cử hành lễ kính Thánh Tâm Chúa Giê-su.
Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su không có mục đích gì khác hơn là cho chúng ta thấy được phần nào tình Chúa thương yêu chúng ta.
Chúa Giê-su chẳng những đã sinh ra, đã sống, đã chết cho chúng ta, mà còn đã sống lại và hiển trị vinh quang cho chúng ta, để ở cùng chúng ta luôn mãi: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b).
Cảm kích trước tình yêu thương của Chúa Giê-su, Giáo Hội muốn bày tỏ lòng mến đối với Người. Trong tâm tình ấy, chúng ta cùng hiệp dâng Thánh Lễ này, dâng tiến Trái Tim Chúa cuộc sống và tình yêu chúng ta.
- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim quảng đại của Chúa, Chúa đã ban cho chúng con là đoàn chiên của Chúa, được no thoả nơi đồng cỏ Nước Trời. Xin Chúa thương xót chúng con...
- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim bao dung của Chúa, Chúa đã chết trên thập giá, để giao hoà chúng con với Chúa Cha. Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con...
- Lạy Chúa, nhờ Trái Tim tình thương của Chúa, Chúa đã làm cho lòng trí chúng con được tràn ngập tình yêu và ấm lên tình thương của Chúa Cha trên trời. Xin Chúa thương xót chúng con...
B- GIẢNG LỄ
Con người hay bị chao đảo, khốn khổ vì ảnh hưởng cuộc sống với người khác, nên dễ có cái nhìn thiên lệch, ác cảm về Thiên Chúa giống như vậy.
Nhưng nếu ta đọc kỹ những bài đọc của phụng vụ hôm nay - và thực sự khi ta biết chịu khó đọc Sách Thánh, nhất là sách Phúc Âm - thì cái nhìn của chúng ta tất phải đảo ngược lại! Thiên Chúa quả thật là Đấng đáng cho chúng ta tôn thờ và yêu mến, bởi Người là Đấng nhân hậu và hằng quan tâm đến hạnh phúc của con người!
Thiên Chúa đã ví Người như một mục tử chăm lo cho đoàn chiên. Người quan tâm tập trung đoàn chiên cho khỏi tản mác. Con nào thất lạc, Người tận tâm tìm kiếm và âu yếm đưa về đàn. Người dẫn thả đoàn chiên nơi đồng cỏ xanh tươi mầu mỡ, lo chữa trị cho những con bị thương tích hay ốm đau.
Đây quả thật là hình ảnh tương phản với những mục tử nhà Ít-ra-en ~nghĩa là những nhà lãnh đạo dân Chúa thời bấy giờ.
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en - tác giả bài đọc I - đã từng lên án gắt gao các vị lãnh đạo tôn giáo thời ông, bởi họ chẳng những đã không chăm sóc cho người dân, ngược lại còn bóc lột, làm thiệt hại đồng bào và quần chúng của mình. Họ đặt ra nhiều hình thức lễ nghi với những của lễ phải dâng tiến, để họ cũng được chia phần trong đó ! Họ bắt người khác phải tôn kính, trọng đãi họ. Họ sống giả dối trước Tôn Nhan Thiên Chúa và bất chấp dưới mắt mọi người. Ngôn sứ đã gọi tầng lớp lãnh đạo này như là những kẻ chăn thuê, coi mướn, chỉ chú tâm mưu tính cho quyền lợi và địa vị của mình, mà quên đi quyền lợi cũng như giá trị nhân phẩm của người dân - đồng bào của họ - và của chính Thiên Chúa - Đấng sở hữu chiên đích thật nữa !
Chỉ có Thiên Chúa mới là vị Mục Tử đích thật. Vì thế, khi Đức Ki-tô làm người, Người đã là hiện thân cho tình yêu của Thiên Chúa yêu thương con người, bởi vì Người cũng đích thật là Mục Tử của đoàn chiên dân Chúa. Chúa Ki-tô sẵn sàng thí hiến cả mạng sống mình vì đoàn chiên: “ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi: Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô” (Rm 5,8-9).
Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, chính là chúng ta nhắc nhớ, ca tụng, cảm tạ tình thương yêu Chúa nhân hậu, bao dung và chân thành đã dành tất cả cho chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta biết đáp trả tấm lòng yêu thương ấy bằng cách sống thánh thiện, tránh xa tội lỗi cũng như các dịp tội, để dành tình yêu thương lại cho Chúa. Nếu có lỡ dại sa ngã phạm tội, chúng ta cần vững tin vào lòng nhân hậu yêu thương của Chúa mà sám hối trở về và qua phép Hoà Giải, sớm làm hoà với Người.
Chúc tụng tình thương yêu của Chúa đến muôn đời. A-men.
Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)
- Trong Tin mừng chỉ có vài câu có liên hệ gián tiếp đến Trái tim của Chúa Giêsu, như trong Mátthêu 11,29: “…Vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Latinh là “quia mitis sum et humilis corde”) hoặc trong Gioan 20,27: “…Hãy đặt vào cạnh sườn Ta” (“Mitte in latus meum”) trong đó hai từ corde và latus đều ám chỉ trái tim của Chúa Giêsu. Ngoài ra Chúa Giêsu không đả động gì đến trái tim Ngài. Không bao giờ Ngài bảo phải yêu mến và tôn sùng trái tim Ngài.
Cha William G. Most, chuyên gia thần học, giảng giải: Tôn sùng Thánh Tâm là một phần của nền tảng đức tin căn cứ vào lòng Chúa yêu thương, được biểu hiện nơi Trái Tim Chúa Giêsu, nhờ đó chúng ta mới hiện hữu và được cứu rỗi.
- Có lẽ việc tôn sùng Thánh tâm Chúa Giêsu phát xuất từ đoạn Tin mừng theo thánh Gioan 19,31-37 kể lại rằng: sau khi Chúa Giêsu tắt thở trên thập giá, thì một người lính lấy ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì máu cùng nước chảy ra. Chính Chúa Giêsu lúc còn sống, Ngài phán: “Hết thảy những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các người. Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,25-30).
Chiêm ngắm cạnh sườn bị đâm thâu của Đấng Cứu Thế, chúng ta sẽ hiểu biết Ngài cách sâu rộng hơn, kinh nghiệm về tình yêu của Ngài cách đầy đủ hơn, khiến chúng ta có thể sống chan hoà với tình yêu của Ngài và sẵn sàng làm chứng về tình yêu ấy cho những người khác.
- Trái tim thường được coi là “trụ sở của Tình yêu”. Chúng ta tôn thờ Thánh Tâm Chúa, để nhớ đến tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại, đối với mọi người chúng ta. Giáo hội thiết lập lễ Thánh Tâm là để đề cao lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại nơi Ngôi Hai Thiên Chúa làm người là Đức Giêsu Kitô.
Suy ngắm về tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại, chúng ta mới hiểu được định nghĩa của thánh Gioan: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8). Tình yêu còn đặc biệt được biểu lộ qua việc Ngài thương xót những kẻ tội lỗi: “Ta đến không phải để tìm người công chính, nhưng để tìm người tội lỗi biết ăn năn hối cải” (Lc 5,32).
- Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu không phải là bằng những tình cảm ướt át, ủy mị, những lời kinh đền tạ tha thiết, những câu hát than van rên rỉ… nhưng là đi vào tâm tình của Ngài, hoà vào mạch sống yêu thương của Ngài, là chấp nhận sự hy sinh, sự mất mát, sự chết cho anh em đồng loại được sống, được hạnh phúc.
Suy ngắm tình Chúa yêu, chẳng những giúp chúng ta thêm lòng yêu mến Chúa, mà còn giúp chúng ta thêm lòng yêu thương tha thứ cho nhau. Thánh Gioan viết: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương nhau… Như Chúa đã tha thứ cho chúng ta, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau và giúp đỡ lẫn nhau…” (1Ga 11-21).
Con người có hai nhu cầu cần được thoả mãn đó là muốn yêu và được yêu. Là người, ai cũng muốn yêu: cha mẹ thương con cái, con cái yêu mến cha mẹ; vợ chồng yêu nhau,bạn bè thương mến nhau. Ai không còn khả năng để yêu người khác, thì tuy đang sống nhưng cũng kể như đã chết. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, Ngài yêu thương mọi người và Ngài cũng muốn được con người đáp lại tình yêu của Ngài. Chúng ta hãy xin Chúa cho mỗi người chúng ta cảm nghiệm được tình yêu Chúa thương mình và cố gắng đáp trả phần nào tình yêu của Chúa.
- Qua lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu hôm nay, chúng ta hãy thêm lòng tôn sùng yêu mến Thánh Tâm Chúa. Một cách cụ thể, tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là cố gắng đổi mới chính con tim của chúng ta, sao cho nó hiền hậu khiêm nhường như Trái Tim Chúa Giêsu theo lời Ngài phán: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Ga 20,27). Chúng ta phải làm sao cho con tim chúng ta biết yêu thương loài người, nhất là yêu thương những người nghèo khổ, bị bỏ rơi và yêu thương như trái tim yêu thương rộng mở của Chúa Giêsu vẫn luôn luôn yêu thương.
- Đồng thời, hôm nay cũng là ngày thánh hoá các linh mục của Chúa. Đức Thánh Cha kêu gọi cộng đồng dân Chúa hãy nâng đỡ các linh mục trong ơn gọi nên thánh của các ngài, bằng lời cầu nguyện và những việc hy sinh, cộng tác với các ngài trong việc mục vụ tông đồ và truyền giáo. Xin cho các linh mục mỗi ngày sống thánh thiện để trở thành những mục tử theo gương Chúa Kitô.
Chúng ta hãy hợp lời cầu nguyện cho các ngài như các ngài vẫn cầu nguyện cho mình hằng ngày: “O bone Jesu, fac ut sim sacerdos secundum cor tuum”: Lạy Chúa Giêsu nhân lành, xin cho con trở thành linh mục như lòng Chúa mong muốn.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Ngay từ xa xưa, trái tim luôn là biểu tượng trung tâm của mọi hành động tình cảm, cảm xúc, tinh thần, luân lý và trí tuệ của con người. Vâng, “tim” là biểu tượng của những gì quan trọng nhất, cơ bản nhất và là biểu tượng sự sống của kiếp nhân sinh: Người có trái tim ngừng đập là người đã đi vào cõi chết và sự sống không còn hiện hữu.
Tuy nhiên, biểu tượng trên tất cả mà “trái tim” phát biểu, đó là tình yêu. Ngoài ra, tim còn là dấu hiệu của lòng nhân ái, quảng đại như người ta thường gọi người quảng đại là con người của trái tim. Tim cũng được chỉ người có ý chí mạnh mẽ, cho nên người can đảm còn được ca tụng: Người có trái tim mạnh mẽ...
Suy niệm
Trong Thánh Tâm, trái tim của Thiên Chúa gặp gỡ và cứu độ con người. Bởi sự hiệp thông, “ở trong, cư ngụ”. Chúa Kitô ở trong chúng ta và đưa chúng ta vào trong trái tim Ba Ngôi: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 17,23). Sâu sắc hơn nữa, như Chúa Giêsu đã thổ lộ: “tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,26). Tình yêu Thiên Chúa đạt đỉnh cao bằng cái chết của Con Thiên Chúa trên thập giá để cứu độ nhân sinh: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”(Ga 15,13).
Truyền thống về Thánh Tâm Chúa Giêsu được Tin Mừng ghi nhận, mà nguồn gốc chính là hình ảnh thánh tông đồ Gioan, môn đệ được Chúa yêu đã đặt mình vào lồng ngực Chúa ở trong bữa tiệc ly (x. Ga 13,23), nói về tình yêu bao bọc của Ngài đối với người môn đệ, và nhân loại qua Gioan là người đại diện, tình yêu Ngài bao bọc cả nhân loại. Thánh Augustinô đã diễn giải hình ảnh này: “Thánh Gioan, tác giả Tin Mừng, khi đặt mình vào ngực Chúa ở trong bữa Tiệc ly đã nhận từ Thiên Chúa sự dâng hiến cao cả của Thiên Chúa, ông đã lãnh nhận những gì bí mật nhất, thâm sâu (của tình yêu Thiên Chúa) trong Thánh Tâm Chúa” (“Tractatus in Johannis evangelium”, XVIII 1). Hình ảnh rõ nét nhất mà Gioan đã ghi nhận làm trung tâm tình yêu: Trên thập giá, tim của Chúa Giêsu bị đâm thâu, máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,34-37), phát sinh sự sống, Giáo hội và các bí tích Thánh Thể và Thanh Tẩy biểu tượng của sự sống, của tình yêu: Tình yêu gội rửa bằng nước, và tình yêu nuôi sống bằng máu. Thánh Anselmo khi chiêm ngưỡng hình ảnh trái tim Chúa bị đâm thâu đã cảm nhận: “Chúa Giêsu hiền lành, Ngài đã mở cạnh sườn, Ngài đã biểu lộ và phân phát sự tốt lành trọn hảo và Đức Ái tuôn trào nơi trái tim Ngài” (Dixième méditation).
Khi chiêm ngưỡng hai hình ảnh mang ý nghĩa của Thánh Tâm Chúa, Thánh Ambrôsiô (340 - 397) mời gọi người tín hữu đến bên tình yêu Chúa Kitô để múc nguồn tình yêu: “Hãy đến bên Đức Kitô vì Ngài là tảng đá nơi các mạch suối được sinh ra. Hãy đến bên Chúa Kitô vì Ngài là dòng suối trong đó có dòng thác tạo nên thành trì (để bảo bọc con người) của Thiên Chúa. Hãy đến bên Đức Kitô, bởi Ngài là bình an. Hãy đến bên Chúa Kitô vì những dòng suối sự sống tuôn trào từ cõi lòng (trái tim) Ngài”.
Cho nên, nơi Thánh Tâm Chúa, con người hôm nay, với tâm thức và tình cảm của thời đại khám phá ra câu trả lời mà mình luôn tự vấn và tất cả sự chờ đợi trong cuộc sống: tìm thấy được một nơi yên nghỉ sau những giây phút mệt mỏi của đời sống và đặt tất cả mọi nỗi lo âu, những gánh nặng trần thế như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. “Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). Thật thế, con người sẽ tìm thấy bình an, nơi tình yêu thánh trong trái tim Chúa khi đi vào sự hòa giải của chính bản thân, giữa mình với Thiên Chúa. Thánh Tâm sẽ là nguồn hy vọng sống, sống trọn vẹn trong tình yêu của Thiên Chúa.
Ý lực sống
“Tất cả những gì Thiên Chúa muốn nói với chúng ta về ngôi vị của Ngài, về tình yêu của Ngài, Người đã đặt trong Thánh Tâm Đức Giêsu và qua Trái Tim Thánh này, Thiên Chúa phát biểu cho chúng ta” (Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II).
Tin liên quan
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 10 Thường niên năm II - Giữ luật với tâm tình yêu thương (Mt 5,20-26)
- Lời Chúa hằng ngày:Thứ Tư tuần 10 Thường niên năm II - Đức Giêsu kiện toàn lề luật (Mt 5,17-19)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Ba tuần 10 Thường niên năm II - Muối và Ánh Sáng (Mt 5,12-16)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Hai tuần 10 Thường niên năm II - Tám Mối phúc (Mt 5,1-12)
- Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa năm A (Ga 6,51-58)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 9 Thường niên năm II (Mc 12,38-44)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Sáu tuần 9 Thường niên năm II
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 9 Thường niên năm II
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Tư tuần 9 Thường niên năm II
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Ba tuần 9 Thường niên năm II - Bổn phận của công dân Nước Trời (Mc 12, 1-12)

Bài đăng ngày
-64x64.png)


