Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 14 Thường niên năm A (Mt 11,25-30)
“Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng
trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an”. (Mt 11,28)

BÀI ĐỌC I: Dcr 9, 9-10
“Này vua ngươi khiêm tốn đến với ngươi”.
Trích sách Tiên tri Dacaria.
Đây Chúa phán: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy nhảy mừng; hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy reo mừng! Này vua ngươi đến với ngươi. Người là Đấng công chính và là Đấng cứu độ; Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ. Người đã loại bỏ các chiến xa khỏi Ephraim, và ngựa khỏi Giêrusalem. Cung tên chiến trận sẽ được phá huỷ. Người sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc. Quyền bính của Người sẽ bành trướng từ biển này đến biển nọ, từ sông cái đến tận cùng trái đất”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 144, 1-2. 8-9. 10-11. 13cd-14
Đáp: Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời (c. 1).
Xướng:
1) Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ ca khen Chúa, và con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời. Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời. - Đáp.
2) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Đáp.
3) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài. - Đáp.
4) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng đứng thẳng lên. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Rm 8, 9. 11-13
“Nếu nhờ thần trí mà anh em đã giết được hành động của xác thịt, thì anh em sẽ được sống”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Đức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Và nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Kitô từ cõi chết sống lại, cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.
Anh em thân mến, chúng ta không phải là những kẻ mắc nợ xác thịt, để chúng ta sống theo xác thịt. Vì chưng, nếu anh em đã sống theo xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Trí mà anh em đã giết được các hành động (xấu xa của) thân xác, thì anh em sẽ được sống.
Đó là lời Chúa.
Tin mừng: Mt 11, 25-30
Khi ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. - Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho.
“Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.
Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân
Giáo lý cho Bài Giảng
CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN NĂM A
(Theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích)
Số 514-521: Hiểu biết các mầu nhiệm của Đức Kitô, hiệp thông trong các mầu nhiệm của Người
514. Có nhiều điều liên quan đến Chúa Giêsu mà loài người tò mò muốn biết, nhưng lại không được các sách Tin Mừng nói đến. Tin Mừng hầu như không nói gì về cuộc sống của Người ở Nazareth, và một phần lớn cuộc đời công khai của Người cũng không được kể lại[1]. Những gì đã được viết ra trong các Tin Mừng, được kể lại là “để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).
515. Các sách Tin Mừng đã được viết ra bởi những người trong số những người đầu tiên đã có đức tin[2], và muốn cho những người khác được tham dự vào đức tin đó. Đã được biết Chúa Giêsu là ai trong đức tin, họ có thể thấy và chỉ cho người khác thấy những dấu tích của mầu nhiệm của Người trong suốt cuộc đời trần thế của Người. Từ những mảnh tã quấn thân ngày Người Giáng Sinh[3], cho đến chút giấm lúc Người chịu khổ hình[4], và tấm khăn liệm ngày Người Phục Sinh[5], mọi sự trong cuộc đời Chúa Giêsu đều là dấu chỉ của mầu nhiệm của Người. Qua những cử chỉ, những phép lạ, những lời nói của Người, Người mạc khải “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9). Như vậy, nhân tính của Người xuất hiện như một “bí tích”, nghĩa là, một dấu chỉ và dụng cụ của thần tính của Người, và của ơn cứu độ mà Ngươi mang lại: những gì hữu hình trong cuộc đời trần thế của Người, dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm vô hình, là địa vị làm Con Thiên Chúa của Người và sứ vụ cứu chuộc của Người.
Những nét chung của các mầu nhiệm của Chúa Giêsu
516. Cả cuộc đời của Đức Kitô là một Mạc khải về Chúa Cha: những lời Người nói, những việc Người làm, những lúc Người im lặng, những đau khổ Người chịu, cách thế Người sống và giảng dạy. Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga l4,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). Vì Chúa chúng ta đã làm người để chu toàn thánh ý của Chúa Cha[6], nên ngay cả những điểm nhỏ nhặt nhất trong các mầu nhiệm của Người đều biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta[7].
517. Cả cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Cứu chuộc. Ơn Cứu chuộc đến với chúng ta trước hết nhờ Máu Người đổ ra trên thập giá[8], nhưng mầu nhiệm này được thực hiện qua cả cuộc đời Đức Kitô: ngay trong việc Người Nhập Thể, Người đã trở nên nghèo để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta nên giàu có[9]; trong cuộc sống ẩn dật, Người vâng phục[10] để sửa lại sự bất phục tùng của chúng ta; khi giảng dạy, lời Người nói thanh tẩy những người nghe[11]; khi chữa bệnh và trừ quỷ, “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17)[12]; khi phục sinh, Người làm cho chúng ta được nên công chính[13].
518. Cả cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Quy tụ: tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói, và đã chịu đau khổ, đều có mục đích là để phục hồi con người sa ngã về lại ơn gọi đầu tiên của họ:
“Khi nhập thể và làm người, Đức Kitô đã quy tụ nơi mình lịch sử lâu dài của nhân loại, và đã đem lại ơn cứu độ cho chúng ta theo con đường tắt, để những gì xưa kia chúng ta đã mất nơi Ađam, tức là không còn là hình ảnh và giống như Thiên Chúa nữa, thì nay chúng ta được nhận lại trong Đức Kitô Giêsu”[14]. “Chính vì thế Đức Kitô đã trải qua mọi tuổi đời, để cho mọi người lại được hiệp thông với Thiên Chúa”[15].
Chúng ta hiệp thông với các mầu nhiệm của Chúa Giêsu
519. Mọi sự phong phú của Đức Kitô là dành cho mọi người và là tài sản của mọi người[16]. Đức Kitô không sống cho bản thân Người, nhưng cho chúng ta, từ lúc Người nhập thể “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”[17], cho đến khi Người chịu chết “vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15,3) và sống lại “để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25). Cả bây giờ nữa, Người vẫn là trạng sư của chúng ta “trước mặt Chúa Cha” (1 Ga 2,1), “vì Người hằng sống để chuyển cầu” cho chúng ta (Dt 7,25). Với tất cả những gì Người đã sống và đã chịu đựng một lần cho mãi mãi vì chúng ta, giờ đây Người luôn hiện diện “trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9,24) đến muôn đời.
520. Trong cả cuộc đời của Người, Chúa Giêsu tỏ mình là mẫu mực của chúng ta[18]: chính Người là “con người hoàn hảo”[19], Người mời gọi chúng ta trở nên môn đệ của Người và bước đi theo Người; qua việc tự hạ của Người, Người ban cho chúng ta một gương mẫu để bắt chước[20]; qua việc cầu nguyện của Người, Người lôi kéo chúng ta cầu nguyện[21]; qua sự nghèo khó của Người, Người kêu gọi chúng ta tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn và những cơn bách hại[22].
521. Tất cả những gì chính Người đã sống, Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Người, và Người sống những điều đó trong chúng ta. “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người”[23]. Chúng ta được kêu gọi nên một với Người; chính Người làm cho chúng ta, với tư cách là những chi thể của Thân Thể Người, được hiệp thông với những gì Người đã sống trong thân thể Người vì chúng ta và nên như mẫu mực cho chúng ta:
Chúng ta phải tiếp nối và hoàn thành nơi bản thân chúng ta các giai đoạn của cuộc đời Chúa Giêsu và các mầu nhiệm của Người, và thường xuyên cầu xin… để Người hoàn tất và kiện toàn những điều ấy trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người…. Vì Con Thiên Chúa có ý truyền thông, mở rộng và tiếp tục các mầu nhiệm của Người trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người,… hoặc bằng các ân sủng Người quyết định ban cho chúng ta hoặc bằng những hiệu quả Người muốn thực hiện nơi chúng ta qua các mầu nhiệm ấy. Bằng cách này, Người muốn hoàn tất các mầu nhiệm của Người trong chúng ta[24].
Số 238-242: Chúa Cha được mạc khải nhờ Chúa Con
238. Việc khẩn cầu Thiên Chúa với tước hiệu là “Cha” đã được biết đến trong nhiều tôn giáo. Thượng Đế thường được coi như “cha của các vị thần và của người phàm”. Trong dân Israel, Thiên Chúa được gọi là Cha, với tư cách là Đấng tạo dựng trần gian[25]. Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì Ngài đã lập Giao ước và ban Lề luật cho dân được gọi là “Israel con đầu lòng của Ta” (Xh 4,22). Ngài cũng được gọi là Cha của vua Israel[26]. Và đặc biệt hơn nữa, Ngài là “Cha của người nghèo”, của cô nhi, quả phụ, những kẻ được Ngài thương yêu che chở[27].
239. Khi gọi Thiên Chúa là “Cha”, ngôn ngữ đức tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh: Thiên Chúa là nguồn gốc thứ nhất và là Đấng uy quyền siêu việt trên hết mọi sự, đồng thời là Đấng nhân hậu và yêu thương chăm sóc mọi con cái của Ngài. Tình phụ tử này của Thiên Chúa cũng có thể được diễn tả qua hình ảnh tình mẫu tử[28]. Hình ảnh tình mẫu tử nói lên rõ hơn sự gần gũi của Thiên Chúa và sự thân mật giữa Thiên Chúa với thụ tạo của Ngài. Như vậy, ngôn ngữ đức tin múc nguồn nơi kinh nghiệm phàm nhân về cha mẹ, các vị này một cách nào đo, là những đại diện đầu tiên của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy rằng, cha mẹ phàm nhân có thể phạm sai lầm và họ có thể làm méo mó dung mạo của tình phụ tử và mẫu tử. Vì vậy phải nhớ rằng, Thiên Chúa siêu việt hẳn trên sự phân biệt phái tính của phàm nhân. Ngài không là nam mà cũng không là nữ. Ngài là Thiên Chúa. Ngài cũng siêu việt hẳn trên sự làm cha làm mẹ của người phàm[29], mặc dù Ngài là nguồn gốc và là chuẩn mực[30] của chức năng làm cha làm mẹ: không ai là cha như Thiên Chúa là Cha.
240. Chúa Giêsu đã mạc khải Thiên Chúa là “Cha” theo một nghĩa chưa từng có: Ngài là Cha không những vì Ngài là Đấng Tạo Hoá, nhưng từ đời đời Ngài là Cha trong tương quan với Con duy nhất của Ngài, Đấng từ đời đời là Con trong tương quan với Cha của Người: “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27).
241. Vì vậy các Tông Đồ tuyên xưng Chúa Giêsu là “Ngôi Lời”, “lúc khởi đầu … vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1), là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), và là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).
242. Sau các ngài, Hội Thánh tiếp nối Truyền thống Tông Đồ, trong Công đồng chung thứ nhất họp tại Nicêa năm 325, đã tuyên xưng Chúa Con “đồng bản thể với Chúa Cha”[31], nghĩa là, Người là một Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha. Công đồng chung thứ hai họp tại Constantinôpôli năm 381, vẫn duy trì cách diễn tả trong công thức của tín biểu Nicêa và đã tuyên xưng: “Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời, Người là Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”[32].
Số 989-990: Xác sống lại
989. Chúng ta tin một cách chắc chắn và hy vọng một cách chính xác rằng: cũng như Đức Kitô đã thật sự sống lại từ cõi chết và sống muôn đời, thì cũng vậy, những người công chính sau cái chết của mình sẽ sống muôn đời với Đức Kitô phục sinh, Đấng sẽ làm cho họ sống lại vào ngày sau hết[33]. Sự sống lại của chúng ta, cũng như sự sống lại của Người, sẽ là công trình của Ba Ngôi Chí Thánh:
“Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8,11)[34].
990. Từ “thân xác” được dùng ở đây để chỉ con người trong thân phận yếu đuối và phải chết của nó[35]. “Xác sống lại” có nghĩa là sau khi chết, không những linh hồn bất tử được có sự sống, mà cả “thân xác phải chết” (Rm 8,11) của chúng ta cũng sẽ được đảm nhận lại sự sống
Bài giảng của Đức Thánh Cha
CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN NĂM A
|
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (09/7/2017) - Hãy đến với Ta Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (06/7/2014) - Chia sẻ gánh nặng cho nhau |
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (09/7/2023) - Mặc khải Nước Trời cho người bé mọn
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hôm nay Tin Mừng thuật lại một lời cầu nguyện rất đẹp của Chúa Giêsu. Người hướng về Cha và thưa rằng: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25). Chúa Giê-su đang nói về những điều gì? Và, những kẻ bé mọn này là ai, những điều này được mạc khải cho ai? Chúng ta cùng dừng lại ở điều này: về những điều mà Chúa Giêsu ngợi khen Chúa Cha và về những người bé mọn biết đón nhận những điều đó.
Những điều mà Chúa Giêsu ngợi khen Chúa Cha. Trước đó, Chúa nhắc lại một số công việc của Người: “Người mù nhìn thấy […] người phong được sạch, […] kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11:5), và Người mặc khải ý nghĩa của nó khi nói rằng chúng là những dấu chỉ Thiên Chúa hành động trong thế giới. Như vậy, thông điệp thật rõ ràng: Thiên Chúa tỏ mình ra bằng cách giải thoát và chữa lành con người, bằng một tình yêu cứu độ và nhưng không. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu ca ngợi Chúa Cha, bởi vì sự cao cả của Người hệ tại ở tình yêu và Người không bao giờ hành động ngoài tình yêu. Nhưng những người tự cho mình là vĩ đại và tự phong thần theo hình ảnh riêng của họ - mạnh mẽ, cứng nhắc, hay thù hằn - thì không thể hiểu sự vĩ đại trong tình yêu này. Nói cách khác, những ai tự cao, tự đại, chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, tin rằng mình không cần ai, thì không thể đón nhận Thiên Chúa là Cha. Về vấn đề này, Chúa Giêsu kể tên cư dân của ba thành phố giàu có thời bấy giờ là Kho-ra-din, Bết-xai-đa và Ca-phác-na-um, nơi Người đã thực hiện nhiều cuộc chữa lành, nhưng cư dân của họ vẫn thờ ơ với lời rao giảng của Người. Đối với họ, phép lạ chỉ là những sự kiện ngoạn mục, hữu ích cho việc tạo ra tin tức và có cái để bàn tán: khi hết hứng thú, họ bỏ qua chúng, có lẽ cũng để chạy theo một số tin tức khác theo thời mới hơn. Họ đã không thể đón nhận những điều vĩ đại của Thiên Chúa.
Trái lại, những kẻ bé mọn biết chào đón những điều ấy và Chúa Giêsu ngợi khen Cha về họ: “Con xin ngợi khen Cha” vì Cha đã mặc khải Nước Trời cho những kẻ bé mọn. Chúa Giêsu ngợi khen cha về những người đơn sơ, có trái tim không tự phụ và từ tình yêu đích thực. Những người bé mọn là những người, giống như trẻ thơ, cảm thấy cần mọi thứ và không tự mãn, mở lòng ra với Thiên Chúa và để cho mình kinh ngạc trước những công trình của Người. Họ biết cách đọc các dấu hiệu của Người, ngạc nhiên trước những phép lạ từ tình yêu của Người! Anh chị em, và cả tôi, tự hỏi: tôi có biết ngạc nhiên trước những điều của Thiên Chúa hay chúng ta nhìn thấy nó như những điều trôi qua.
Anh chị em thân mến, cuộc sống của chúng ta, nếu để ý, sẽ thấy đầy những phép lạ: đầy những cử chỉ yêu thương, những dấu chỉ lòng nhân từ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi đối diện với những điều ấy, ngay cả tâm hồn chúng ta cũng có thể có thái độ thờ ơ và quen thuộc, tò mò nhưng không thể kinh ngạc, không thể để mình bị “ấn tượng”. Một trái tim đóng lại, một trái tim bọc sắt thì không có khả năng ngạc nhiên. Ấn tượng: là một động từ hay dùng để diễn tả sự kinh ngạc trước một bức ảnh. Đây là thái độ đúng đắn trước những công trình của Thiên Chúa: hãy chụp lại trong tâm trí những công trình của Người, để chúng in sâu vào trái tim, rồi làm cho chúng triển nở trong cuộc sống, qua nhiều cử chỉ tốt lành, để “bức ảnh” của Thiên Chúa - tình yêu trở nên tỏa sáng hơn bao giờ hết trong chúng ta và qua chúng ta.
Và bây giờ chúng ta hãy tự hỏi: trong thác lũ tin tức tràn ngập chúng ta, như Chúa Giêsu cho chúng ta thấy hôm nay, tôi có biết dừng lại ở những điều vĩ đại mà Thiên Chúa thực hiện không? Tôi có để mình ngạc nhiên như một đứa trẻ trước những điều tốt đẹp âm thầm thay đổi thế giới không, hay chúng ta mất khả năng kinh ngạc? Và tôi có chúc tụng Chúa Cha mỗi ngày vì công việc của Người không?
Xin Mẹ Maria, người đã vui mừng trong Chúa, giúp chúng ta có thể kinh ngạc trước tình yêu của Người và ca ngợi Người một cách đơn sơ.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (05/7/2020) - Những bí ẩn dành cho người khiêm nhường
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Đoạn Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay (x. Mt 11,25-30) được chia thành ba phần: trước hết Chúa Giêsu cất lên một bài thánh thi chúc tụng và tạ ơn Chúa Cha, vì Người đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người nghèo và bé mọn; sau đó Ngài mặc khải tương quan mật thiết và độc nhất giữa Ngài với Cha; và cuối cùng là lời mời hãy đến với Ngài và bước theo Ngài để nhận được sự nghỉ ngơi.
Ở điểm đầu tiên, Chúa Giêsu ngợi khen Cha vì Người đã giấu những bí mật về Nước Trời, về sự thật, “đối với những bậc khôn ngoan và thông thái” (câu 25). Ngài gọi họ như vậy với một bức màn trớ trêu, bởi vì họ tự cho mình là khôn ngoan thông thái, và do đó nhiều lần họ khép kín trái tim. Sự khôn ngoan đích thực còn đến từ trái tim, chứ không chỉ hiểu biết những ý niệm. Nếu anh biết nhiều điều nhưng trái tim lại khép kín, thì anh không phải là khôn ngoan. Nhưng Chúa Giêsu nói rằng những bí ẩn của Cha lại được tiết lộ cho “những người bé nhỏ”, những người tin tưởng mở con tim ra với Lời cứu rỗi của Ngài, họ cảm thấy cần Ngài và mong đợi mọi sự từ Ngài. Một trái tim mở rộng và tín thác vào Chúa.
Sau đó, Chúa Giêsu giải thích rằng Ngài đã nhận được mọi sự từ Chúa Cha. Ngài gọi Chúa Cha là “Cha của tôi”, để khẳng định sự độc đáo trong mối tương quan của Ngài với Chúa Cha. Thật vậy, chỉ giữa Con và Cha mới có sự hỗ tương hoàn toàn: người này biết người kia, người này sống trong người kia. Nhưng sự hiệp thông độc đáo này giống như một bông hoa đang nở, để mặc khải cách nhưng không vẻ đẹp và sự tốt lành của Ngài. Và đây là lời mời của Chúa Giêsu: “Hãy đến cùng tôi ...” (câu 28). Ngài muốn cho đi những gì Ngài nhận được từ Cha. Ngài muốn ban cho chúng ta sự thật, và sự thật của Chúa Giêsu luôn nhưng không, miễn phí: là một quà tặng, là Thánh Thành, là Sự Thật.
Giống như Cha dành ưu tiên cho “những người bé mọn”, Chúa Giêsu cũng nhắc đến những người “mệt mỏi và bị áp bức”. Thật vậy, Ngài tự đặt mình trong số họ, bởi vì Ngài là “người hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (câu 29). Như trong các Mối Phúc thứ nhất và thứ ba, về những người khiêm nhường hay có tinh thần nghèo khó; và về người hiền lành (x. Mt 5,3.5): là sự hiền lành của Chúa Giêsu. Như thế, Chúa Giêsu, “hiền hậu và khiêm nhường”, không phải là hình tượng của những ai cam chịu hay đơn giản là nạn nhân, nhưng là “Con Người” sống hoàn cảnh này “bằng cả trái tim” trong sự trong suốt hoàn toàn với tình yêu của Chúa Cha, tức là với Chúa Thánh Thần. Ngài là khuôn mẫu của những ai có “tinh thần nghèo khó”, và của tất cả những người sống các mối phúc khác của Tin Mừng, những người chu toàn thánh ý Thiên Chúa và làm chứng cho Vương quốc của Ngài.
Và rồi, Chúa Giêsu nói rằng nếu chúng ta đến với Ngài, chúng ta sẽ tìm được sự nghỉ ngơi: “Sự nghỉ ngơi” mà Chúa Kitô dành cho những người mệt mỏi và bị áp bức không phải là một sự nghỉ ngơi chỉ về tâm lý hay một của bố thí, nhưng đó là niềm vui của những người nghèo được nghe Tin Mừng và trở nên những người kiến tạo nhân loại mới. Đây là thông điệp cho chúng ta, cho tất cả những người thiện chí, mà Chúa Giêsu vẫn nhắc đến ngày hôm nay trong thế giới tôn vinh những người tìm kiếm giàu có và quyền lực, bất kể bằng phương tiện gì, và đôi khi chà đạp lên con người và phẩm giá con người. Chúng ta nhìn thấy điều này hằng ngày, những người nghèo bị chà đạp. Và đó là một thông điệp dành cho Giáo hội, được kêu gọi thực thi lòng thương xót và mang Tin Mừng đến cho người nghèo, trở nên hiền hậu và khiêm nhường. Chúa muốn cho Giáo hội của Ngài, tức là chúng ta như thế.
Xin Đức Maria, người khiêm tốn nhất và cao nhất giữa các thụ tạo, cầu bầu Thiên Chúa cho chúng ta sự khôn ngoan của trái tim, để chúng ta biết phân định những dấu chỉ của Ngài trong cuộc sống chúng ta và được tham dự vào những bí ẩn, vốn bị che giấu đối với những người kiêu ngạo, nhưng mặc khải cho những người khiêm tốn.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (09/7/2017) - Hãy đến với Ta
Anh chị em thân mến!
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng” (Mt 11:28). Chúa không chỉ nói những lời này dành cho những người bạn của Chúa, không, Chúa nói những lời ấy là dành cho tất cả mọi người, dành cho tất cả những ai đang mệt mỏi với gánh nặng cuộc sống. Và ai có thể cảm thấy mình bị loại ra khỏi lời mời gọi của Chúa? Chúa thấu biết cuộc sống này nặng tới mức độ nào. Chúa thấu biết bao điều mệt mỏi trong tâm hồn: đó là những thất vọng, những vết thương trong quá khứ, những gánh nặng phải mang lấy, những lầm lỗi trong hiện tại, những bất định và lo âu về tương lai.
Hãy đến!
Đối diện với tất cả những điều ấy, Chúa Giêsu đã cất lên lời mời gọi, mời gọi chúng ta biết phản ứng và di chuyển. Chúa nói: “Hãy đến!” Khi gây ra những sai lỗi, chúng ta dễ bị lỳ lại tại đó. Hiển nhiên là rất khó để chúng ta có thể biết cách phản ứng và biết mở ra. Khi ấy, để mở ra thì thật không dễ chút nào. Trong những thời khắc đen tối, phản ứng tự nhiên của chúng ta là dừng lại nơi bản thân mình và nghĩ về những điều bất công của cuộc sống, nghĩ về những điều vô ơn, những điều tệ hại của cuộc đời này, và còn nhiều điều khác nữa. Chúng ta biết tất cả những điều ấy.
Có những lần chúng ta từng trải qua kinh nghiệm tồi tệ ấy. Thế nhưng, khi chỉ khép lại nơi bản thân mình, thì chúng ta thấy mọi sự là đêm đen. Sau đó, thậm chí chúng ta đem nỗi buồn ấy về nhà và để cho nỗi buồn ấy thôi thúc chúng ta. Buồn như thế thì thật là tệ. Thay vào đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta ra khỏi cái hố cát lún ấy, và Chúa nói với từng người chúng ta: “Hãy đến!” – nhưng mà ai đến? – “là bạn, chính bạn…” Lối thoát của cuộc sống chính là ở trong mối tương quan này, ở trong việc đưa tay ra và ngước mắt lên, nhìn về Đấng thực sự yêu thương chúng ta.
Hãy đến với Ta!
Thực tế, nếu chỉ biết ở lại nơi bản thân mình thì không đủ, bạn phải biết được điểm đến là nơi đâu. Có nhiều điểm đến chỉ là ảo tưởng. Chúng giống như pháo hoa. Chúng hứa hẹn nhiều điều và làm bạn lạc hướng. Chúng đảm bảo cho bạn sự bình an, đem đến cho bạn chút vui vẻ, nhưng sau đó sẽ để mặc bạn trong nỗi cô đơn. Vì thế, Chúa Giêsu nói cho bạn biết, bạn cần đi đến đâu. Chúa nói: “Hãy đến với Ta!” Nhiều lần, khi phải đối diện với gánh nặng cuộc sống, hoặc khi có chuyện buồn, chúng ta cố gắng nói chuyện với ai đó biết lắng nghe chúng ta, chúng ta nói với một người bạn, nói với một chuyên gia… Làm điều ấy thì thật là tốt, nhưng đừng quên Chúa Giêsu! Đừng quên mở cuộc sống của bạn cho Chúa Giêsu, đừng quên nói với Chúa về cuộc sống của bạn, đừng quên phó dâng chính bạn và phó thác cuộc đời của bạn cho Chúa.
Có lẽ vẫn còn những ngõ ngách cuộc đời mà chúng ta chưa bao giờ mở cửa cho Chúa bước vào, những nơi ấy vẫn còn tăm tối, những nơi ấy vẫn chưa có ánh sáng của Chúa. Từng người đều có câu chuyện của riêng mình. Và nếu ai đó có những khoảng trống tăm tối, thì hãy đến với Chúa Giêsu, hãy đi đến với lòng thương xót, đến với vị linh mục, hãy đến… Hãy đến với Chúa Giêsu, hãy kể cho Chúa nghe câu chuyện của bạn. Hôm nay Chúa nói với từng người chúng ta rằng: “Can đảm lên, đứng trước sức nặng của cuộc sống, đừng bỏ cuộc, đừng khép kín nơi bản thân với những sợ hãi và tội lỗi, nhưng hãy đến với Ta”.
Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng
Chúa đang đợi chờ chúng ta, Chúa luôn mong đợi chúng ta. Chúa không giải quyết các vấn đề của chúng ta một cách thần kỳ, nhưng Chúa giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ để có sức đương đầu với các vấn đề ấy. Chúa Giêsu không gạt đi gánh nặng cuộc đời, nhưng trái tim Người mang lấy nỗi đau; Chúa không lấy thập giá khỏi chúng ta, nhưng Người vác thập giá cùng chúng ta. Và cùng với Chúa, gánh nặng ấy trở nên nhẹ nhàng, bởi vì chính Chúa là chốn nghỉ ngơi mà chúng ta kiếm tìm. Khi Chúa Giêsu bước vào cuộc đời, thì bình an đến với cuộc đời ấy, ngay cả giữa những thử thách và khổ đau. Hãy đến với Chúa và dâng cho Chúa thời gian của chúng ta, trong cầu nguyện hằng ngày, trong sự tin tưởng, trong cuộc đối thoại thân tình. Chúng ta hãy thân quen với Lời Chúa, để tái khám phá ra ơn tha thứ của Chúa mà không còn sợ hãi, để chúng ta được thanh tẩy bởi Bánh Sự Sống. Khi ấy chúng ta sẽ cảm thấy mình được yêu mến, chúng ta sẽ cảm thấy điều ấy và được chính Chúa ủi an.
Chính Chúa đã nhiều lần hỏi điều ấy, khẳng định điều ấy. Chúa lặp đi lặp lại nhiều lần trong phần cuối bài Tin Mừng hôm nay: “Hãy học cùng Ta… và anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng”. Như thế, chúng ta học với Chúa, đi cùng Chúa. Trong những tháng hè này, chúng ta nghỉ ngơi một chút, nhưng đừng quên đi tìm sự nghỉ ngơi đích thật nơi Chúa. Lạy Mẹ Maria, Mẹ của chúng con, xin nâng đỡ chúng con, vì Mẹ luôn chăm sóc chúng con khi chúng con mệt mỏi mang gánh nặng nề. Xin Mẹ dẫn chúng con về với Chúa Giêsu.
Nguồn: archivioradiovaticana.va (09.07.2017)
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 14 Thường niên năm A (06/7/2014) - Chia sẻ gánh nặng cho nhau
Chào anh chị em!
Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, chúng ta nghe thấy lời mời gọi của Đức Giêsu. Ngài nói: "Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng" (Mt 11,28). Khi Đức Giêsu nói điều này, đang hiện diện trước mắt Ngài là những con người mà Ngài gặp gỡ hàng ngày trên đường đi lên Galilea: rất nhiều người đơn sơ, người nghèo, bệnh nhân, tội nhân, người bị gạt ra bên ngoài xã hội... Những con người này thường đi theo Ngài để nghe lời Ngài - lời trao ban hy vọng! Những lời của Đức Giêsu luôn trao ban niềm hy vọng! Họ cũng muốn chỉ cần chạm vào vạt áo của Ngài. Chính Đức Giêsu cũng đã đi tìm những đám đông mệt mỏi và bất lực như đàn chiên không có người chăm sóc này (x. Mt 9,35-36) và Ngài tìm họ để rao giảng cho họ biết về Nước Chúa và để chữa lành nhiều người trong số họ về thể xác cũng như tinh thần. Bây giờ, Ngài mời gọi hết thảy họ hãy đến với mình: "Hãy đến với tôi" và Ngài hứa ban cho họ nghỉ ngơi và bồi dưỡng.
Lời mời gọi này của Đức Giêsu nới rộng cho đến chúng ta ngày nay, vươn đến nhiều anh chị em đang bị đè nặng bởi những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống, bởi những tình huống sinh tồn vất vả và nhiều khi chẳng có giá trị gì để nhắc tới. Trong những quốc gia nghèn nàn hơn, mà thậm chí nơi những vùng ngoại ô của những nước giàu, ta vẫn có thể tìm thấy nhiều người mệt mỏi và bất lực dưới sức nặng không thể chịu nỗi của việc bị bỏ rơi và sự hờ hững. Sự hờ hững: hờ hững của con người đối với những người thiếu thốn thật tệ hại biết bao! Tệ hại hơn, sự hờ hững của các Kitô hữu! Những người ở bên lề xã hội là những người nam nữ bị cái nghèo hành hạ, nhưng cũng có khi bị chính sự bất mãn của cuộc sống và sự hụt hẫng. Nhiều người bị buộc phải tỵ nạn khỏi quê cha đất tổ của mình, đánh liều chính cuộc sống của mình. Nhiều người hơn nữa mỗi ngày phải mang gánh nặng của một hệ thống kinh tế bóc lột con người, đè nặng trên họ cái "ách" không thể vác nỗi mà số ít những người có đặc lợi không muốn mang. Đức Giêsu nói với từng người con của Cha trên trời rằng: "Hãy đến với Ta, hỡi tất cả". Nhưng Ngài cũng nói điều này với những ai sở hữu nhiều thứ mà trong con tim của họ trống trơn, không có Thiên Chúa. Đức Giêsu cũng gửi gắm đến những người này: "Hãy đến với ta". Lời mời gọi của Đức Giêsu dành cho tất cả. Nhưng cách đặc biệt, Ngài dành cho những ai đang đau khổ nhất.
Đức Giêsu hứa cho tất cả mọi người được nghỉ ngơi nhưng Ngài cũng trao ban cho chúng ta một lời mời gọi nữa, lời mời gọi nhưng cũng giống như một mệnh lệnh: "Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng" (Mt 11,29). "Ách" của Chúa bao gồm cả việc giúp chia sẻ gánh nặng với người khác bằng tình yêu huynh đệ. Cứ mỗi khi nhận được sự nghỉ ngơi và êm ái nơi Đức Kitô, chúng ta cũng được mời gọi để trở nên sự nghỉ ngơi và êm ái cho anh chị em mình, với thái độ hiền lành và khiêm nhường, noi gương Thầy Chí Thánh. Sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng giúp chúng ta không chỉ chia sẻ gánh nặng của người khác nhưng còn không đè nặng lên họ quan điểm cá nhân, phán đoán, phê bình và sự hờ hững của chúng ta nữa.
Chúng ta hãy cầu xin Mẹ Rất Thánh, đón nhận dưới tà áo mẹ tất cả những ai mệt mỏi và bất lực để nhờ đức tin tỏa sáng, được chứng thực trong cuộc sống, chúng ta có thể trở thành nơi nghỉ ngơi cho những ai đang cần giúp đỡ, cần sự hiền lành và niềm hy vọng.
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Ðức Giêsu đã mạc khải mầu nhiệm về Cha của Ngài cho những kẻ bé mọn, những kẻ vô danh tiểu tốt. Ðối với xã hội họ chẳng là gì, chẳng có quyền gì, nhưng đã được Ðức Giêsu yêu thương và dạy cho biết về mầu nhiệm cao siêu, huyền nhiệm Nước Trời.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã không chê sự hèn mọn của chúng con. Chúa đã cho chúng con được hạnh phúc biết về Thiên Chúa Cha, Ngài là Cha yêu thương chúng con. Xin cho toàn thế giới này cũng được nhận ra Cha là Ðấng đầy yêu thương để họ được hạnh phúc. Amen.
Ghi nhớ : “Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng”.
Suy niệm (Lm Ignatio Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Dcr 9,9-10
1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ phần thứ hai của sách Da-ca-ri-a, thường được gọi là đệ nhị Da-ca-ri-a, không phải do chính ngôn sứ Da-ca-ri-a viết mà là tác phẩm vô danh của nhiều tác giả khác. Ngôn sứ Da-ca-ri-a đích thực sống vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên, vào thời kỳ tái thiết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem sau khi trở về từ chốn lưu đày ở Ba-by-lon (521–515 trước Công nguyên). Phần thứ hai của sách Da-ca-ri-a tuy mang tên vị ngôn sứ nhưng được sáng tác khoảng hai trăm năm sau. Tác phẩm là một tập họp nhiều bản văn khác nhau, vô danh và không ghi ngày tháng năm, và thuộc về một thời kỳ giữa chủ nghĩa ngôn sứ lụi tàn và xuất hiện văn chương Khải huyền. Lúc bấy giờ người ta đọc lại những tác giả của thời quá khứ, giải thích và làm mới sứ điệp của các tác giả đó. Trong bài đọc 1, chúng ta vừa nghe đầy dẫy những hoài niệm về các ngôn sứ I-sai-a, Xô-phô-ni-a, Mi-kha, sách các Vua ...
Một sợi dây nối kết hai yếu tố khác biệt lại : đó là chủ đề Mê-si-a. Đấng Mê-si-a được tiên báo qua ba dung mạo mà các tác giả Tin Mừng đã nhắc lại khi trích dẫn :
- Dung mạo của vị Vua – Mê-si-a, khiêm tốn và hiền hoà.
- Dung mạo của một vị Mục Tử tốt lành, bị các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en tẩy chay.
- Cuối cùng là dung mạo của một Đấng bí nhiệm bị đâm thâu.
Bài đọc 1 hôm nay đề cập đến dung mạo thứ nhất : dung mạo của Đấng Mê-si-a khiêm tốn, hiền hoà.
* Vua – Mê-si-a tiến vào Giê-ru-sa-lem
“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi.” Bài ca vui mừng này báo cho dân Ít-ra-en biết vị Vua – Mê-si-a đang ngự đến với những tiếng tung hô trong Phụng vụ ca ngợi vương quyền của Chúa. Các thánh vịnh cung cấp cho chúng ta nhiều mẫu gương về vấn đề này, chẳng hạn như thánh vịnh 46 : “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi ! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo ! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 46,2-3), hay thánh vịnh 95 : “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa hỡi toàn thể địa cầu. Chúa thật cao cả xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, vì chư thần các nước thảy đều hư ảo” (Tv 95,1-2.3-4). Ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng đã đề cập đến vấn đề này trong các thánh thi Phụng vụ : “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on ! Hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy nức lòng phấn khởi ! Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa” (Xp 3,14). Đấng Mê-si-a tiến vào Giê-ru-sa-lem trong vẻ bề ngoài khiêm tốn nhất.
* Vị Vua khiêm nhường
Vị Vua tương lai này sẽ là “Đấng chính trực và toàn thắng”. Tác giả lấy lại những đức tính quen thuộc trong thuyền thống Mê-si-a : “Người sẽ mở rộng quyền bính và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời.” Trong bài đọc 1 vừa nghe, ta thấy tác giả nhấn mạnh đến đức tính cốt lõi của vị Vua – Mê-si-a, đó là khiêm tốn. “Người khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” Tất cả vị vua đầu tiên của Ít-ra-en đều cỡi lừa, rồi sau đó là con la, rồi ngựa không thể thiếu cho một chiến binh. Lừa là con vật các người nghèo vẫn dùng để cỡi. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe là bản văn duy nhất trong Cựu Ước mô tả Đấng Mê-si-a như là một nhân vật đầy lòng khiêm tốn. Lời sấm của ngôn sứ được áp dụng cho Đức Giê-su, khi vào Giê-ru-sa-lem cỡi trên một con lừa con với đám đông nhiệt liệt tung hô.
* Vị Vua hoà bình
“Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im (vương quốc phía Bắc) và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem (vương quốc phía Nam).” Tác giả muốn nói rằng thời đại Mê-si-a sẽ là thời đại tái thống nhất hai vương quốc Ép-ra-im và Giê-ru-sa-lem. Toàn thể bộ máy chiến tranh đều bị huỷ bỏ. Từ ngữ “dùng” được nhắc lại nhiều lần trong bản văn Kinh Thánh : “Trong ngày đó, Ta sẽ bẻ gãy cung nỏ, gươm đao, chấm dứt chiến tranh trên toàn xứ sở, và Ta sẽ cho chúng được sống yên hàn” (Hs 2,20). “Nhưng nhà Giu-đa thì Ta sẽ chạnh lòng thương và sẽ cứu chúng nhờ Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng. Ta sẽ không dùng cung nỏ, gươm đao và chinh chiến mà cứu chúng, cũng chẳng dùng chiến mã và kỵ binh” (Hs 1,7), hay ngôn sứ Mi-kha : “Ta sẽ cho ngựa của ngươi biến khỏi xứ, sẽ huỷ diệt xe trận của ngươi” (Mk 5,9). Hoà bình là quà tặng tuyệt vời nhất của Đấng Mê-si-a. Chính Vua Mê-si-a sẽ công bố điều đó cho các quốc gia : “Bình an ! Bình an cho khắp xa gần” (Is 57,19). Thánh vịnh 72 : “Triều đại Người đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72,7). Tuy mang vẻ bề ngoài là vị Vua khiêm tốn và hiền hoà, yêu chuộng hoà bình, nhưng Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng trái đất.
Đáp ca : Tv 144
1. Thánh vịnh 144 là thánh vịnh ca ngợi Chúa uy linh. Người Do-thái đọc thánh vịnh này mỗi ngày vào giờ kinh Sáng : “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa.” Đức Giê-su chắc cũng đọc thánh vịnh này hàng ngàn lần. Từ ngữ diễn tả tâm tình ca tụng thật súc tích : tán dương, chúc tụng, ca ngợi, ca tụng, tuyên bố, kể lại rằng, xưng tụng. Tác giả thánh vịnh không thể không chúc tụng Thiên Chúa. Đức vua của ông chính là Thiên Chúa. Ông kể ra vinh quang của Người : vinh hiển, kỳ công, uy quyền ... là những phẩm tính vương giả. Ông còn ca tụng lòng nhân ái, từ bi, nhân hậu, đầy tình thương, thành tín, công minh, gần gũi ... những phẩm tính của một người cha. Thiên Chúa là Vua nhưng không phải là một vị vua với quyền năng bá chủ và xa cách, nhưng Người luôn nhìn đến thụ tạo mà Người đã dựng nên và thông ban sự sống cho mọi loài.
2. Tin Mừng chứng minh rằng Đức Giê-su luôn quy hướng về Thiên Chúa. Người là Đấng Chúa Cha sai đến để thực thi thánh ý Chúa Cha. Lòng nhân ái của Thiên Chúa mà thánh vịnh 144 nói đến, Đức Giê-su chính là hiện thân sống động. Nhờ Người mà “ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên”. Của ăn ban cho các sinh vật ăn thoả thuê chính là bánh mỗi ngày mà Đức Giê-su khuyên ta xin Chúa Cha, và cũng chính là bánh hằng sống nhiệm mầu trong bí tích Thánh Thể.
Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13
1. Vấn đề lớn trong bài đọc 2 hôm nay nằm trong từ “xác thịt” : đối với thánh Phao-lô, “xác thịt” không có nghĩa như chúng ta nghĩ ngày nay đâu. Cái mà thánh Phao-lô gọi là xác thịt không phải là thân xác đâu, cái mà thánh Phao-lô gọi là Thần Khí cũng không phải là tâm hồn. Đàng khác, nhiều lần thánh Phao-lô nói về Thần Khí của Thiên Chúa, hay “Thần Khí của Đức Ki-tô”. Và nếu đọc cho kỹ, ta thấy thánh Phao-lô không có ý đối chọi hai từ “xác thịt” và “Thần Khí”, nhưng là cách sống, “sống theo xác thịt” và “sống theo Thần Khí”. Thánh Phao-lô đề nghị người tín hữu phải chọn một trong hai cách sống.
Đối với thánh Phao-lô, “sống theo xác thịt” là sống xa cách Thiên Chúa, đóng khung trong tâm trí và sức lực giới hạn của con người. Từ “xác thịt” thường trở nên đồng nghĩa với tội lỗi, nghĩa là đối nghịch với Thiên Chúa, hoặc ít ra là nghi ngờ Người, thiếu lòng tin vào Thiên Chúa. Trước những thử thách hằng ngày trong sa mạc, cách riêng khi bị khát, dân Ít-ra-en nghi ngờ Thiên Chúa bỏ rơi họ, nên họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê ; chúng ta biết câu chuyện ở tại Ma-xa và Mơ-ri-va mà sách Xuất hành đã kể lại. Cũng thế, ông A-đam nghi ngờ Thiên Chúa và không vâng lời Người. Đó là câu chuyện sa ngã tại vườn Ê-đen, vườn địa đàng.
2. Trái lại, “sống theo Thần Khí” là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cách sống của chúng ta. Thánh Phao-lô cho ta biết : “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em.” Từ “Thần Khí” được lặp lại 3 lần trong bản văn hôm nay, cho thấy tầm quan trọng thánh Phao-lô đặt vào đó. “Ta sẽ đặt Thần Khí Ta vào lòng các ngươi và các ngươi sẽ được sống.” Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nói như vậy. Từ nay về sau, nghĩa là từ khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thánh Phao-lô cho biết : “Thần Khí Thiên Chúa ngự trong anh em.” Chúng ta trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, vì thế, chính Người điều khiển chúng ta.
Nói rằng Thần Khí ngự trong chúng ta, là xác nhận Người hành động nơi chúng ta để thực hiện điều Người đã thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô : “Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chêt, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới.” Lời hứa cho sống lại là nhắm đến tương lai, nhưng vì thánh Phao-lô đang nói về sự lệ thuộc của chúng ta vào Thần Khí, nên chắc chắn ngài cũng nghĩ đến đời sống thiêng liêng là hoa quả sự phục sinh của Đức Ki-tô mà chúng ta đã liên kết vào. “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Ki-tô” (Cl 2,12-13). Ngay khi còn sống trong thân xác hay chết, chúng ta đã có thể sống theo Thần Khí của Đức Ki-tô, ta có thể thay từ “Thần Khí” bằng từ “tình yêu”. Thánh Phao-lô đã viết cho tín hữu Rô-ma ở chương 5,5 : “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô cho ta biết hoa quả của Thần Khí là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22). Tắt một lời, tình yêu mang những sắc thái khác nhau của đời sống thường ngày. Về vấn đề này, thánh Phao-lô là người thừa kế đích thực của toàn bộ truyền thống của các ngôn sứ : tất cả đều xác nhận rằng mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa được kiểm chứng qua các liên hệ của chúng ta với tha nhân ; và trong các bài ca về “Người Tôi Tớ”, I-sai-a quả quyết rằng, sống theo Thần Khí của Thiên Chúa là yêu thương và phục vụ anh em mình.
Bài Tin Mừng : Mt 11,25-30
1. Lời Chúa trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe gợi lại chuyện các thiếu niên Do-thái trong sách Đa-ni-en, giải thích ý nghĩa giấc chiêm bao của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo mà tất cả các nhà thông thái Ba-by-lon đều không giải thích được, nhờ ơn mặc khải của Thiên Chúa. Nhà vua nhìn thấy trong giấc chiêm bao một pho tượng kỳ quái : Đầu pho tượng ấy bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và hai bắp đùi bằng đồng, hai bắp chân bằng sắt, hai bàn chân nửa sắt nửa sành. Ngài đang mải nhìn thì bỗng có một tảng đá tách ra, dù không có bàn tay nào đụng tới, nó đập vào pho tượng trúng hai chân nửa sắt nửa sành khiến hai bàn chân vỡ tan ra. Bấy giờ tất cả cùng vỡ tan : cả sắt, sành, đồng, bạc lẫn vàng, giống như rơm rác trên sân phơi lúa mùa hè bị gió cuốn đi không để lại dấu vết gì. Còn tảng đá làm vỡ pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn, choáng hết mặt đất. Và đây là ý nghĩa của giấc chiêm bao : Đức Chúa Trời đã ban cho vua vương quốc, quyền hành, thế lực và vinh quang, và cho ngài làm chúa tể muôn loài. Cái đầu bằng vàng chính là ngài. Sau triều đại của ngài, sẽ xuất hiện một vương quốc khác kém hơn ngài. Rồi một vương quốc thứ ba nữa, vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị cả mặt đất. Còn vương quốc thứ tư vững như sắt. Cũng như sắt nghiền nát và đập tan tất cả, thì vương quốc thứ tư này sẽ đập tan tất cả các vương quốc trước đó. Trong giấc chiêm bao, chúng ta thấy bốn loại kim khí được kể theo thứ tự giảm dần : vàng, bạc, đồng, sắt, chỉ bốn vương quốc : Ba-by-lon (đầu bằng vàng) ; Mê-đi-a (ngực và hai cánh tay bằng bạc – một vương quốc khác) ; vương quốc thứ ba là Ba Tư (bụng và bắp đùi bằng đồng) ; Hy-lạp (hai bắp chân bằng sắt). Còn hai bàn chân nửa sắt nửa sành (= nửa bằng đất sét) chỉ vương quốc Hy-lạp sẽ bị phân chia sau khi vua A-lê-xan-đê đại đế băng hà, từ năm 305 trở đi, vương quốc Hy-lạp chia làm hai : vương quốc do nhà Xê-lêu-cô cai trị, gọi là vương quốc mạnh, và vương quốc do nhà La-gô cai trị được gọi là vương quốc yếu. Vương quốc đập tan tất cả các vương quốc khác, đó là vương quốc Mê-si-a, vương quốc cánh chung.
Cũng thế, Chúa Giê-su ngợi khen Thiên Chúa như Cha đã tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn, tức là những kẻ tin theo và chỉ biết lệ thuộc vào người lớn. Ở đây, Chúa Giê-su cũng cho thấy Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho Người, nhất là cho Người biết Cha để rồi Người mặc khải cho người ta, nghĩa là để làm cho người ta được sống đời đời. Như thế, chính Chúa Giê-su là Con Người của sách Đa-ni-en, ở đây xuất hiện dưới danh xưng Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Những người này cũng là những kẻ vất vả, mang gánh nặng nề mà Chúa Giê-su kêu gọi đến với Người. Trước tiên, đây hiểu về những người Do-thái sống dưới ách của Lề Luật cũ và vô vàn vô số những tập tục nặng nề mà các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã đặt ra. Nhưng cũng hiểu rộng ra về kiếp sống con người trên trần gian này nói chung.
Mang lấy ách của tôi là một kiểu nói bóng các thầy Ráp-bi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai làm Thầy. Ách / gánh của Chúa Giê-su là đạo lý Tin Mừng. Có thể nói đạo lý này tổng hợp trong ba điểm : tin (trở thành môn đệ, thụ giáo với Chúa), khiêm nhường (thái độ đối với Chúa), hiền lành (thái độ đối với tha nhân) như Chúa Giê-su.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con hiểu rằng ách của Chúa luôn êm ái và gánh của Chúa luôn nhẹ nhàng.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có noi gương Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường chưa ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Một lời nguyện không tách rời những câu Tin Mừng ở đoạn trước
(L. Monloubou, “Evangile de Matthieu”, Salvator).
Lời cầu nguyện của Đức Giê-su được trích dẫn ở đây không tách rời những câu Tin Mừng ở đoạn trước. Vì quen chia cắt chương này, ta hay coi thường mối liên hệ chặt chẽ nối kết Lời của Đức Giê-su với sự thất bại khi Người rao giảng tại Ga-li-lê. Thất bại này giải thích tại sao Đức Giê-su kết án những thành thị bất tín.
Điểm lý thú trong lời kinh nguyện của Đức Giê-su là, sau khi cảm nhận sự thất bại trong chuyến đi vòng quanh Ga-li-lê, Đức Giê-su “chúc tụng” Chúa Cha.
Trong Cựu Ước không thiếu gì những bản văn miêu tả phản ứng hiếu chiến rất nhân loại của các ngôn sứ. Sau khi bị tổn thương vì gặp thất bại, họ quy trách nhiệm cho Thiên Chúa về những thất bại đó. Bài tự thuật của ngôn sứ Giê-rê-mi-a tường thuật lại mối thất vọng nặng chất người – trừ Đức Giê-su, ai dám kết án một sự thất vọng như thế ? – của vị ngôn sứ bất hạnh, bị các thính giả mà Người kết án vây hãm tứ bề. Những câu nói của một vị ngôn sứ tuyệt vọng vì thất bại, muốn nghi ngờ Thiên Chúa đã được ngôn sứ Giê-rê-mi-a thuật lại (15,15-18 hoặc 15,19-21) có thể dùng trong bài đọc 1 ; những lời ấy cho thấy sự yếu đuối của tín hữu, và của chính vị ngôn sứ đã muốn nghi ngờ Thiên Chúa, chúng cho thấy sức mạnh vô song của Đức Giê-su, và, thay vì phản loạn, nghi ngờ, Người đã “chúc tụng”. Người nói : “Vâng, lạy Cha, đó là ý định của Cha.”
Đức Giê-su chúc tụng. Chúc tụng phát xuất từ sự ngưỡng mộ. Ta chúc tụng vì ngưỡng mộ một tác phẩm, một nhân vật có những dấu hiệu của sự hoàn hảo, toàn bích. Như thế Đức Giê-su nghĩ rằng kết quả của chuyến rao giảng tại Ga-li-lê, tuy bề ngoài có vẻ bi quan, vẫn có cái gì tích cực. Để thẩm định sự vật như thế, phải vượt qua những lý do tự nhiên. Vì tiếng kêu thán phục thốt lên trong lời chúc tụng không chỉ phát xuất do sự vật mà ta nhìn ngắm, ngưỡng mộ, tiếng kêu ấy phát xuất từ việc đối chiếu với Thiên Chúa. Một sự ngất ngây phát sinh khi ta thoáng thấy Thiên Chúa ; tình trạng đó là kết quả của một hành vi của Thiên Chúa, như một tác phẩm thần linh. Vậy ta ngưỡng mộ Thiên Chúa hơn là tác phẩm của Người, và ta chúc tụng Người.
Đức Giê-su chúc tụng Thiên Chúa vì, tuy không quên trách nhiệm đối với những kẻ bất tín trong thất bại của Người (sự kết án những thành thị minh chứng điều đó), Người đã nhận ra một mầu nhiệm thần linh ; Người biết rằng Thiên Chúa có mặt trong tấn kịch. Nó đã hầu như phá huỷ nỗ lực rao giảng Tin Mừng của Người. Người ngưỡng mộ sự hiện diện này, công trình của Thiên Chúa này.
Chính Thiên Chúa đã che mắt những kẻ bất tín, cũng chính Thiên Chúa mặc khải cho “những ai đơn sơ” : vì tất cả những điều đó, Người phải được chúc tụng. Người tỏ ra là một Thiên Chúa hiện diện còn hơn cả hiện diện : một Thiên Chúa “là Cha”. Đức Giê-su nói : “Lạy Cha, Con chúc tụng Cha.”
2. Đức Giê-su, sự mặc khải của Chúa Cha cho những kẻ bé mọn
(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).
Lời nguyện của Đức Giê-su : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn …”. Không có ý nói Thiên Chúa phân biệt đối xử ; Đức Giê-su không tuyên bố cửa Nước Trời vĩnh viễn khép chặt đối với một vài loại người. Nhưng mỗi người chúng ta đều bị đe doạ vì thói tự mãn, kiêu căng về kiến thức, về sự khôn ngoan phàm trần … Để đón nhận Thiên Chúa và ơn cứu độ, con người phải diệt trừ thói tự mãn. Đó không phải là hạ mình. Ngược lại, đó là sự cao cả của con người : năng lực của họ mở ra vô biên và do đó đạt đến viên mãn. Vì thế Đức Giê-su có thể ca ngợi Chúa Cha đã ban cho con người được đi vào mầu nhiệm của Người : “Con xin ngợi khen Cha … vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn.” Đó không phải là một lựa chọn cứng nhắc, nhưng là sự quan tâm yêu thương của Người. “Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”
Điều mà Chúa Cha che giấu những người khôn ngoan thông thái, nhưng mặc khải cho những kẻ bé mọn, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa, đời sống thân mật của Thiên Chúa. Thiên Chúa Tình Yêu tỏ mình ra trong mầu nhiệm đời sống của Người, mầu nhiệm sự thân mật của Người, là Thiên Chúa Ba Ngôi : “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Vì đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa, của tình yêu là sức sống Thiên Chúa mà Người muốn ta chia sẻ, sự khôn ngoan thông thái loài phàm trần chúng ta không tài nào hiểu được. Ta không thể phán đoán Thiên Chúa theo chuẩn mực nhân loại. Ta không thể tiến vào mối thân mật thâm sâu với Thiên Chúa bằng những nỗ lực hay bằng lý luận của loài người. Ta chỉ có thể mấp mé ở ngưỡng cửa nơi lý trí còn có thể phiêu lưu, nơi lòng muốn có thể vươn tới nhưng không bao giờ đạt được đối tượng. Các triết thuyết lý luận về Thiên Chúa, các nhà thần bí hướng dẫn cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng sau cùng Thiên Chúa vẫn là “Đấng vượt trên tất cả”. Ta chỉ nhận biết Người nếu để Người dạy dỗ. Ta chỉ gặp được Người nếu để Người dẫn ta đi. “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho …”. Đức Giê-su là con đường duy nhất. Người là Con Thiên Chúa làm người để nói lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ loài người và để tỏ ra tình yêu Thiên Chúa trong cử chỉ của con người …
Người đã trở nên anh em của ta, để dẫn đưa ta về với Cha qua những nẻo đường quanh co của kiếp nhân sinh. Mắt ta ngây ngất chiêm ngưỡng nơi Người một sự khôn ngoan và một tình yêu đích thực. Tim ta bốc lửa vì lời Người trao ban cho ta bí mật của bụi gai cháy đỏ. Ta chỉ biết được Chúa Cha và Chúa Con nhờ thờ lạy, chiêm ngắm trong ngọn lửa của Thánh Thần.
Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)
HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG
+++
A. DẪN NHẬP
Ngày nay, người ta say mê quyền lực và muốn khuất phục người khác dưới quyền mình, muốn sai khiến người khác theo ý mình. Con người có khuynh hướng trở nên kiêu ngạo. Người ta có dị ứng khi nói đến lời dạy “hiền lành khiêm nhường “của Đức Kitô, nhất là khuyên chúng ta hãy thực hiện đức tính này.
Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta cần đi bước theo chân Chúa Kitô. Người đã đến chia sẻ kiếp người của chúng ta, Người đã đi đến mức cùng của việc tự hạ: sống chung thân phận với người nghèo khổ, như người tôi tớ rốt hết. Hiền lành và khiêm nhường là những đức tính mà Chúa Giêsu đã thực hiện trước và khuyên các môn đệ hãy đem ra thực hành: “Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
Thực ra, trước Chúa Giêsu mấy trăm năm, nhà hiền triết Lão Tử cũng đã đưa ra chủ trương: “Nhu nhược thắng cương cường”: lấy mềm dịu thắng cứng rắn (nhu thắng cương, nhược thắng cang). Đây là một chủ trương mới lạ, khó được chấp nhận, chỉ những người có tâm hồn cao thượng mới hiểu và chấp nhận được chủ trương này. Hôm nay chúng ta thấy lời khuyên của Chúa Giêsu rất gần với chủ trương của Lão Tử. Và trong thực tế, có rất nhiều người đã thực hiện lời khuyên của Chúa Giêsu. Họ đã thành công và đã để lại tấm gương sáng muôn đời cho nhiều người. Chúng ta hãy nhớ lại lời khuyên của Chúa Giêsu trong “Tám mối phúc thật”: “Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Dcr 9,8-10
Trong thời Chúa Giêsu, người ta đang trông chờ Đấng Messia đến cứu dân Người với hình ảnh là một Đấng Messia đầy quyền uy, dùng võ khí để tái lập hoà bình. Nhưng tiên tri Giacaria lại loan báo cho dân thành Giêrusalem biết: Đấng Messia không đến trong quyền uy với võ khí huỷ diệt, nhưng đến với một thứ võ khí đặc biệt là “hiền lành và khiêm nhường”.
Theo đó, Đấng Messia sẽ đến cũng là một vị Vua nhưng là vị Vua có những đức tính khác biệt:
. Ngài không phải là vị vua chiến tranh nhưng là vua hòa bình.
. Ngài rất khiêm nhường, không ngồi trên lưng ngựa mà trên lưng lừa.
. Ngài rất hiền lành: không muốn giết chết mà chỉ muốn cứu sống.
Đức Giêsu sẽ hoàn tất việc mong chờ này vào ngày lễ Lá, khi Người vào thành Giêrusalem trên lưng một con lừa, như những người nghèo.
+ Bài đọc 2: Rm 8,9.11-13
Đây là đề tài phụ. Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta rằng khi được chịu phép rửa tội, chúng ta thực sự đã trở nên môn đệ Chúa Kitô, và để phục sinh với Người chúng ta phải sống theo thần khí của Người (tức là Thánh Thần) chứ đừng “sống theo xác thịt” là mọi khuynh hướng xấu sẵn có trong chúng ta.
Ai sống đời sống cũ tức là sống theo xác thịt sẽ bị dẫn đến sự chết. Còn ai sống đời sống mới tức là sống theo Thánh Thần sẽ được dẫn tới sự sống vĩnh cửu.
+ Bài
Tin mừng: Mt 11,25-30
Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta có thể tìm thấy hai ý tưởng chính:
a) Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Người quý chuộng những kẻ bé mọn và khiêm nhường. Chính Người đã tiết lộ bí mật của Người cho họ trong khi Người lại giấu không cho những người khôn ngoan và quyền thế biết được những điều ấy. Vì sao? Vì các luật sĩ và biệt phái đáng lẽ ra phải là những người đầu tiên nhận ra rằng Chúa Kitô là sứ giả của Thiên Chúa. Nhưng sự hiểu biết về Sách thánh của họ đã làm cho họ đầy kiêu căng, một thứ vật cản.
b) Sang phần sau, Chúa Giêsu cho biết, vì không tự mãn, những trí óc khiêm nhường của những kẻ bé mọn lại được mở ra ngay từ đầu đối với những mầu nhiệm của Chúa. Họ đã nhận ra Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa và đón nhận lời Người.
Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khuyên những người bé mọn đó hãy “mang lấy ách của Ngài” tức là “hãy học cùng Ngài” về hai đức tính căn bản là “Hiền lành và khiêm nhường” trong cuộc sống hằng ngày để làm môn đệ Chúa.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Người hiền lành khiêm nhường
Trong phần thực hành lời Chúa, chúng ta chỉ bàn đến lời khuyên của Chúa trong phần thứ hai của bài
Tin mừng: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
I. NÓI VỀ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG
1. Nói về hiền lành
Hiền lành hay hiền hậu là con người tốt lành, không độc ác, nhưng có lòng thương người, có đức hạnh và hay làm điều thiện. Ví dụ: Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh thánh thì nó có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo cứng cỏi. Như thế hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hoà nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo.
Hiền lành thì phải tránh tính nóng nảy. Trong đời sống hằng ngày, người có quyền bính đều sử dụng tính nóng nảy của mình đối với người khác, có khi còn “giận cá băm thớt”. Người ta từng nói: “No mất ngon, giận mất khôn”. Cho nên, để luôn luôn tự cảnh giác, ông Nguyễn Đình Giản, thời Lê mạt, đã viết vào một mảnh giấy, dán lên chỗ ngồi giải trí, câu này:
Tảo cấp tắc bại sự
Nóng tính thì hỏng việc.
2. Nói về khiêm nhường
Theo chữ thì Khiêm nhường hay khiêm nhượng là nhún nhường không khoe khoang, hạ mình xuống một chút. Căn bản của khiêm nhường là biết mình “là” thế nào: từ đó không muốn tỏ ra hơn cái “là” ấy; và giả như người khác có coi mình kém hơn cái “là ấy” thì mình cũng không màng tới. Điều quan trọng là sống thanh thản và thành thật đúng với cái “là” của mình.
Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Kiêu ngạo là muốn tự cho mình vượt quá cái “là” của mình và bắt người ta phải công nhận như vậy. Người kiêu ngạo được coi là người VIỆT VỊ trong bóng đá vì đã vượt quá vị trí của mình. Dĩ nhiên, cầu thủ “việt vị” thì đều bị trọng tài phạt.
Truyện: Hoàng đế Napoléon kiêu ngạo
Trong trận đánh Nga, hoàng đế Napoléon đã mơ tưởng thu phục cả Ấn Độ, và với lòng kiêu căng vô biên, nhà vua đã cho đúc một thứ huy chương có dòng chữ này: “THIÊN ĐÀNG LÀ CỦA CHÚA, TRÁI ĐẤT LÀ CỦA TÔI”. Nhưng rồi nhà vua đã mất ngôi báu vì trận Nga này. Sau trận thất bại của nhà vua, một viên đại tướng Nga cũng cho đúc một huy chương khác, trên mặt có một hình bàn tay đưa ra đám mây và cầm roi đánh vào lưng Napoléon cùng với lời này: “CÁI LƯNG LÀ CỦA MÀY, CÁI ROI LÀ CỦA TA”. Và như thế, vị hoàng đế kiêu ngạo, sau này trong nơi vắng vẻ bị tù đày ở đảo Sainte Helène có thể suy nghĩ đến chân lý về những lời này của Chúa: “Kẻ nào đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Mt 23,12).
II. NGƯỜI ĐỜI NGHĨ THẾ NÀO?
Tuỳ theo quan niệm của người ta, hiền lành nhịn nhục có thể bị coi như một thái độ hèn nhát, nhu nhược. Nhưng cũng có rất nhiều người coi đó là thái độ anh hùng đáng ca tụng. Phải là một con người có bản lĩnh vững vàng cao thượng mới có thể thực hiện được.
1. Thái độ hèn nhát
Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước. Trước đây lời khen ngợi tốt nhất mà ta có thể trao tặng cho kẻ khác là gọi họ là “người hiền lành dễ thương”. Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương. Truyền hình đã làm cho bạo lực có rất nhiều khán giả bằng những chương trình Nielson rất phổ biến (bên Mỹ).
Nếu thi sĩ Alfred de Vigny coi cầu nguyện và than vãn là thái độ hèn yếu, thì đối với ông và với nhiều người khác, họ nghĩ sao với lời Chúa: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”? Có lẽ họ muốn theo cách hành động của anh chàng Tân Ti Tụ suốt đời không chịu để cho ai làm nhục.
Truyện: Anh chàng Tân Ti Tụ
Đời Trang Công nước Tề có người tên là Tân Ti Tụ đêm nằm mơ thấy một chàng cao lớn đội mũ trắng đi giày mới, mặc quần gai, áo vải, đeo gươm tự dưng đến nhà mắng, nhổ vào mặt mà đi.
Tân Ti Tụ giật mình thức dậy, tuy biết chiêm bao nhưng vẫn tức tối, suốt đêm bực rọc khó chịu, không ngủ được.
Sáng dậy, Tân Ti Tụ mời một bạn thân đến nói rằng:
- Bác ạ, tôi từ nhỏ đến giờ vẫn là kẻ hiếu dũng, nay sáu mươi tuổi rồi mà chưa hề chịu ai làm nhục, thế mà đêm qua bị một đứa, tôi phải đi tìm để báo thù, nếu thấy thì hay, còn không tôi chết mất.
Thế rồi từ hôm ấy, sáng nào Tân Ti Tụ cũng cùng bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình mãi ba ngày không thấy, rút cục Tân Ti Tụ phải uất lên mà chết (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, 1965, tr 134).
2. Thái độ can đảm
Ngược lại với thái độ của những kẻ tầm thường chỉ biết hành động theo tình tư dục, những bậc thánh nhân, hiền nhân quân tử có cái nhìn khác hẳn. Những kẻ tầm thường không có cái suy nghĩ và hành động như các vị đó.
Thánh Francois de Sales nói: “Tất cả đều được chinh phục bởi hiền dịu chớ không phải bạo lực”.
Nhà hiền triết Mạnh Tử nói:
“Thiên đạo vô thân. Thường dữ thiện nhân”
Đạo trời không riêng một người. Luôn gia ân cho kẻ hiền lành.
Ông Tô Đông Pha, một văn sĩ Trung hoa thời xưa nói rất chí lý:
“Chỗ mà người xưa gọi là hào kiệt, ắt phải có khí tiết hơn người. Nhưng, nhân tính có chỗ không thể nhịn được. Bởi vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Kẻ đại dũng trong thiên hạ, trái lại, thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh, vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy”.
Để làm nổi bật cái triết lý “Nhu nhược thắng cương cường” trong phương diện cách mạng, ông Nguyễn Duy Cần trong cuốn “Cái dũng của thánh nhân” đã đề cập đến cuộc giải phóng Ấn Độ do ông Gandhi điều khiển. Chính sách đề kháng bất bạo động của Gandhi đã làm cho thế giới hết sức ngạc nhiên và thán phục. Đâu phải người ta không biết dùng bạo động, nhưng vì người ta cho đó là còn hạ sách.
Ông Gandhi nói: “... Tôi tin rằng Ấn Độ không phải là vô lực. 100.000 người Anh làm gì mà đến 300 triệu người Ấn kia phải sợ? Bất bạo động đâu phải chịu luỵ kẻ làm hại mình. Bất bạo động, là dùng sức mạnh của cả tâm hồn để chống lại với cường quyền của kẻ độc tài”.
Một người như thế thôi cũng đủ khiêu khích cả một đế quốc và làm cho nó “tan tành nghiêng ngửa”.
Truyện: Lạn Tương Như và Liêm Pha.
Lạn Tương Như được phong làm tướng quốc. Liêm Pha cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị đứng dưới, nên tức giận hăm he hễ gặp mặt Tương Như là giết đi. Tương Như vì thế cứ lánh mặt mãi... Một hôm Tương Như ra ngoài, gặp toán lính tiền đạo của Liêm Pha, vội sai tên đánh xe đi tránh vào trong ngõ, đợi Liêm Pha đi qua rồi mới đi ra. Bọn xá nhân thấy thế càng giận bèn họp nhau hỏi Tương Như:
- Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây hầu ngài, tức coi ngài là bậc thượng phu nên mến mà theo. Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng mà hạng thứ lại ở trên. Liêm Pha dọa, ngài đã không báo lại, đã tránh ở triều, nay lại tránh ở ngoài đường. Sao ngài lại sợ quá thế vậy? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, vậy xin đi thôi không ở nữa.
Tương Như nói:
- Các ngươi xem tướng quân có hơn được vua Tần không?
Bọn xá nhân đáp:
- Không.
Tương Như nói:
- Lấy cái oai của vua Tần, thiên hạ ai dám chống, mà Tương Như này dám mắng giữa triều đình, lại làm nhục cả quần thần nữa. Tương Như dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân ư? Nhưng ta nghĩ, Tần sở dĩ không dám đánh Triệu là vì e có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ tranh nhau, thế không cùng sống. Tần nghe tin, tất thừa cơ đánh Triệu. Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là coi việc nước là trọng và thù riêng là khinh vậy thôi.
Bọn xá nhận mọp lạy mà rằng:
- Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công.
Liêm Pha khi nghe thuật lại việc làm của Tương Như cả thẹn mà rằng: “Ta thật còn kém Lạn Tương Như xa lắm”. Bèn đến tạ tội với Tương Như, quỳ mọp mà rằng: “Tôi tính thô bạo, đội ơn tướng quân bao dung, nghĩ lấy làm hổ thẹn quá”. Tương Như đỡ dậy, nắm tay cùng khóc và kết làm bạn sống chết với nhau.
(Nguyễn Duy Cần, Cái dũng của thánh nhân, 1958, tr 162-163)
III. CHÚNG TA NGHĨ SAO?
Mỗi người phải lựa chọn cho mình một hướng đi. Chúng ta phải có lựa chọn nào trước lời Chúa dạy: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”? Thái độ của người hiền lành là hèn nhát hay can đảm?
Đối với chúng ta, sự hiền lành và khiêm nhường của Đức Giêsu đã làm cho không biết bao người đương thời với Chúa Giêsu và bao thế hệ sau này ngỡ ngàng và kinh ngạc.
Truyện: BEN HUR
Nhà văn Lewis Wallace trong tác phẩm BEN HUR cũng nói lên tâm tư sững sờ trước sự khiêm nhường sâu thẳm của Đức Kitô:
Ben Hur khi chứng kiến cảnh Đức Kitô bị Giuđa phản nộp và bị các tên lính bắt trói, chàng hăm hở tiến đến gần Chúa Giêsu và hỏi:
- Lạy Thầy, hãy nghe tôi, có phải Thầy tự ý muốn đi theo bọn lính và các giáo sĩ hay không?
Đức Giêsu lặng thinh.
- Lạy Thầy, tôi có một binh đoàn quân Galilê trong thành phố này. Hãy ra lệnh đi, họ sẽ phục tùng Thầy. Thầy có thuận không?
Đức Giêsu vẫn một mực cúi nhìn đăm đăm xuống đất.
- Lạy Thầy, một lời thôi, một lời của Thầy thôi, tất cả sẽ theo Thầy...
Đức Giêsu vẫn im lặng, đến nỗi Ben Hur ngã vật xuống bờ sông Cédron và thốt lên:
- Người Nazareth, hỡi người Nazareth, thế thì thông điệp của Người mang ý nghĩa gì?
Mang một ý nghĩa gì ư? Đó là “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Đó là thông điệp mà Đức Giêsu gửi cho mọi người chúng ta. Ngài đã làm gương trước, chúng ta chỉ việc học đòi bắt chước Ngài thôi.
Qua những tư tưởng trên, chúng ta thấy sự hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô không là một sự nhu nhược nhát đảm, nhưng đó là đức tính của những vĩ nhân, của những bậc đại thánh. Bởi vì chính tính khí kiêu căng đã làm cho thế giới bị đảo lộn, hận thù ghen ghét, chiến tranh. Những kẻ kiêu căng tự mãn là những tiểu nhân, hèn mọn, còn những tâm hồn hiền lành khiêm nhường là bậc anh hùng vì họ đã anh dũng chiến thắng được bản thân với những tính tự ái ích kỷ hẹp hòi. Đó mới là cuộc chiến quan trọng, và cái chiến thắng của cuộc chiến đó mới đáng kể.
Truyện: Đức Gioan 23 và bức thư
Lúc được phong chức Tổng giám mục, Đức Cha Roncalli là Khâm sứ Tòa thánh kiêm đại diện Tông toà quản trị các giáo phận ở Bungari và Thổ. Công việc của ngài rất khó khăn, vì phải trông coi một vùng rộng lớn đang sôi động về mặt chính trị, chia rẽ về mặt tôn giáo, Công giáo với Tin lành, Chính thống, Hồi giáo, các linh mục triều lại chia rẽ với các tu sĩ.
Trong lúc thi hành công việc mục vụ, Đức Tổng giám mục Roncalli nhận được một bức thư nặng lời chê bai chỉ trích Ngài về mọi mặt, do tay một linh mục bất mãn viết. Đọc xong, Đức cha Roncalli không nói một lời, lòng vẫn tha thiết yêu vị linh mục ấy.
Thời gian trôi qua, ngài được thăng chức sứ thần Tòa thánh tại Paris, rồi hồng y giáo chủ Vênêtia, và cuối cùng đắc cử Giáo hoàng với danh hiệu Gioan 23 năm 1958.
Linh mục bất mãn viết thư năm nào vẫn còn sống. Về sau để ngài tháp tùng với giáo dân sang Rôma và xin được yết kiến Đức Giáo hoàng.
Linh mục ấy đã thuật lại cuộc tiếp kiến riêng tư với Đức Giáo hoàng:
“Trong lúc đứng ở phòng khách trên lầu cao Vatican, đầu óc tôi cứ nghĩ tới bức thư bất mãn năm xưa mà lòng tôi vô cùng hối hận. Tôi trộm nghĩ, đã mấy chục năm trời qua rồi, giờ đây chắc hẳn Đức Thánh Cha không còn nhớ gì... Nhưng ai ngờ, sau khi tiếp chuyện thân mật, Đức Thánh Cha với lấy cuốn Kinh thánh và lôi ra trước mặt tôi bức thư khốn nạn ấy. Đang khi tôi lo âu lúng túng, Đức Thánh Cha đã cầm lấy tay tôi và dịu dàng bảo: “Con đừng hoảng sợ, cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn con. Cha cũng là người, cũng yếu đuối, cha ngăn bức thư con viết vào cuốn Thánh kinh, để hằng ngày đọc vào đó mà xét mình, hầu có thể dứt khoát với những khuyết điểm còn tồn tại, hoặc xa tránh những lầm lỡ có thể xảy đến trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con”.
Trong bài “Anh hùng” được chia sẻ với giới trẻ hạt Đức Trọng, tôi đã đề cập đến câu định nghĩa về anh hùng của Vương Thông, theo đó:
ANH là người tự biết mình.
HÙNG là người tự thắng mình.
Vậy người thực hiện được lời Chúa dạy: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” phải là vị anh hùng vì họ đã tự biết mình và đã thắng được mình, thắng được tính nóng nảy và hay trả thù của mình. Đứng trước tấm gương của những người hiền lành nhịn nhục, không ai dám coi họ là những người hèn nhát mà phải suy tôn họ là anh hùng.
Trong bài giảng “Tám mối phúc thật”, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Nếu người ta nói: “Cha nào con ấy” thì chúng ta phải nghĩ thế nào khi chúng ta là con cái Chúa? Nếu Cha chúng ta là Đấng hiền lành khiêm nhường, còn chúng ta là con, thì không thể nào đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho chúng ta. Bài học đã có sẵn, chúng ta chỉ việc đưa ra thực hành.
Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.)
Mt 11,25-30
CON NGỢI KHEN CHA
Khi thi hành sứ vụ, Đức Giêsu nhận ra một điều lạ.
Những người khôn ngoan học thức thường khó đón nhận Tin Mừng,
còn những người đơn sơ, bé mọn lại dễ mở lòng hơn.
Khôn ngoan theo kiểu trần gian làm người ta dễ tự hào, tự mãn.
Học thức, hiểu biết về Kinh Thánh có khi làm người ta khép lại.
Đức Giêsu thấy mình khó chạm được vào trái tim
của những vị kinh sư hay các ông Pharisêu khả kính.
Có biết bao định kiến như thành lũy vây bọc tầm nhìn của họ.
Nhưng Ngài lại thấy dễ rao giảng về Nước Trời
cho đám đông những người ít học bình dân.
Lòng họ như thửa đất đã được cày bừa, chờ gieo hạt giống.
Đức Giêsu thấy hiện tượng trên đây nằm trong ý định của Cha.
Tâm tình ngợi khen Cha bật ra trên môi Ngài cách hồn nhiên.
“Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,26).
Qua Con, Cha muốn mặc khải về chính mình cho mọi người,
nhưng Cha vẫn tôn trọng tự do đón nhận của từng người.
Khi rao giảng, Đức Giêsu cũng muốn đón nhận như Cha.
Có khi Ngài đành chịu thua trước người cứng cỏi chai đá.
Có khi sướng vui trước một trái tim rộng mở đón chờ.
Đức Giêsu ý thức về sự cao cả và vai trò của mình.
Ngài biết Cha đã giao phó cho Ngài mọi sự trên trời dưới đất.
Ngài cũng biết mình là Người Con của Cha,
Người Con duy nhất biết rõ Cha vì luôn ở trong cung lòng Cha,
vì thế cũng là Đấng duy nhất có thể mặc khải về Cha trọn vẹn.
Như thế cả Cha và Con đều là Đấng mặc khải (Mt 11,25.27).
Cha biết rõ Con và mặc khải về Con cho người biết mở lòng.
Cả người khôn ngoan thông thái cũng có thể mở lòng
nếu họ biết khiêm tốn vượt qua những rào cản của thành kiến.
Con biết rõ Cha và mặc khải về Cha cho người biết mở lòng.
Cả những người quê mùa, ít học cũng có thể nắm bắt được
những chân lý cao siêu vượt quá tầm hiểu biết của trí tuệ.
Cha và Con mặc khải về nhau hơn là mặc khải về mình.
Ai đón nhận những mặc khải đó
sẽ được đưa vào thế giới thầm kín nhưng rộng mở của Cha và Con.
Ngay từ trần gian này, người ấy được biết Cha và biết Con
trong mầu nhiệm khôn dò của Thiên Chúa.
Thiên Chúa có một thế giới riêng tư, nhưng lại không khép kín.
Thế giới ấy luôn có những cánh cửa mở ra về phía con người.
Ba Ngôi hạnh phúc viên mãn khi sống cho nhau,
nhưng lại muốn chia sẻ hạnh phúc ấy cho loài người thụ tạo.
Ba Ngôi muốn nhân loại có tương quan thiết thân với từng Ngôi.
Vào thiên đàng là đi vào thế giới hạnh phúc của Thiên Chúa.
Người ta bắt đầu vào thiên đàng ngay từ trần gian này
khi đến thông hiệp với Người Con là Chúa Giêsu.
Hôm nay Chúa Giêsu mời những ai mang gánh nặng nề đến với Ngài,
bất cứ thứ gánh nặng nào mà sức ta không sao mang nổi.
Ngài đổi gánh nặng ấy bằng gánh nhẹ nhàng của Ngài.
Gánh nhẹ nhàng vì Ngài đã điều chỉnh cho vừa vai ta.
Ách êm ái vì ta học được cách mang ách của Ngài,
đón nhận mọi nghịch cảnh với trái tim hiền hậu, khiêm nhu.
Hãy đến với Giêsu, không chỉ để nhận được mặc khải trên cao,
mà còn để được Ngài an ủi vỗ về, dạy dỗ và cho ta bình an.
LỜI NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng,
chẳng có chuyện gì xảy ra mà Chúa không cho phép.
Cả những chuyện xấu xa tồi tệ mà con người làm cho nhau.
Cả sự dữ đang hoành hành do Xatan gây ra trên mặt đất.
Nhiều khi chúng con không hiểu được
tại sao Chúa lại cho phép xảy ra những chuyện như thế.
Nhưng chúng con tin rằng, đối với ai yêu mến Chúa,
mọi sự đều đem lại điều tốt cho họ.
Chúng con tin rằng những gì Chúa cho phép xảy ra
đều vì yêu thương chúng con
và vì ích lợi cho cuộc sống vĩnh hằng của chúng con.
Chúa đau đớn khi phải dùng roi mà sửa dạy
như người cha sửa dạy con mình để mong con nên người.
Xin cho chúng con nhận ra điều Chúa muốn nhắc nhở,
để cải hóa bản thân và điều chỉnh đời mình cho hợp với ý Chúa.
Lạy Thiên Chúa là Cha đầy lòng nhân ái,
trên đường về quê trời,
Chúa muốn chúng con trải qua những thử thách cam go,
như bệnh tật, khổ đau và cái chết,
để chúng con nên cứng cáp và trưởng thành.
Xin cho chúng con đừng nổi loạn trước thử thách,
nhưng biết nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá,
để nhẫn nại và giữ vững niềm hy vọng,
kể cả khi thấy Thiên Chúa vắng bóng, thinh lặng hay khoanh tay.
Ước gì dịch bệnh làm chúng con ý thức sự bất lực của mình,
để tha thiết cầu xin và tín thác vào tình yêu Chúa.
Ước gì khi Chúa cho chúng con được chữa lành,
chúng con lại thấy sự sống của Chúa chiến thắng vinh quang.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Chị Têrêsa thành Lisieux sống và mang tinh thần bé nhỏ: Luôn làm những việc bé nhỏ, chị đã thổ lộ và cầu nguyện: “Con là một linh hồn rất bé mọn, chỉ có thể dâng những điều bé mọn cho Chúa”.
Nhờ tinh thần phó thác vào Chúa, chị cảm nhận ra tình yêu Chúa ngay cả những đen tối nhất của tâm hồn đó là cảm nghiệm được nước Trời: “Ngay cả những khi gặp thử thách ốm đau, con không sợ, vì Chúa luôn ở bên con, nâng đỡ con, vì Ngài đã nâng đỡ con từ khi con còn tấm bé, và sẽ nâng đỡ con mãi mãi cho đến hơi thở cuối cùng”.
Chính tinh thần bé nhỏ đã khiến chị sờ tới nước Trời và trong Thiên Chúa chị được bình an tâm hồn khi đặt mỗi gánh nặng bệnh tật vào Chúa.
Suy niệm
Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “Con xưng tụng Cha vì Cha đã mạc khải nước Trời cho những người bé mọn”. Người mang tâm tình thơ ấu bé nhỏ, người anh em hay chị em, tín thác vào tình yêu của Chúa Cha và để cho Ngài làm việc.
Chúa Giêsu đã chọn lựa những con người bé nhỏ, tầm thường để mạc khải nước Chúa và những người mang Tin Mừng đó là những anh thuyền chài không được trọng dụng trong xã hội.
Còn những con người học thức tài ba như Phaolô như Matthêu lại tự chấp nhận bé nhỏ để nước Trời được tỏa hiện trong các ông và tự các ông đến với anh em mình. Người mang tinh thần bé nhỏ được nước Trời mạc khải, được phác họa với hình ảnh Kinh Thánh:
“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ
Trong con hồn lặng lẽ an vui”
(Tv130,2).
Nhỏ bé, nép mình vào lòng Chúa, phó thác tất cả để được Thiên Chúa đỡ nâng, vì thế Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy đến với lòng Chúa để được nâng đỡ bồi dưỡng tâm hồn.
Cuộc sống hôm nay, con người luôn mong muốn được vĩ đại, sự mong muốn và phấn đấu vĩ đại của con người đã lấn át mạc khải nước Trời. Con người quên tinh thần bé nhỏ tín thác, sự vĩ đại mà họ muốn khẳng định và định đoạt tất cả, cái giá của sự vĩ đại mang danh “tự do” làm cho tôi và bạn quên Thiên Chúa gạt Ngài ra khỏi đời sống trong từng cách sống. Dù rằng, chúng ta vẫn luôn tuyên xưng mình là người có đạo, người tin Chúa. Đó chính là một thực tế của thế giới ngày hôm nay ở khắp mọi châu lục, đặc biệt là châu Âu, cái nôi của Kitô giáo. Nơi cuộc sống của chúng ta cũng thế.
Trong cuộc sống hằng ngày, ai trong chúng ta cũng đã cảm nghiệm được vất vả, mang gánh nặng, chịu gian nan thử thách, chịu đau khổ cả tinh thần lẫn vật chất, từ bản thân đến gia đình và xã hội. Với tinh thần bé nhỏ bên Chúa, con người hôm nay tìm thấy được một nơi yên nghỉ sau những giây phút mệt mỏi của đời sống và đặt tất cả mọi nỗi lo âu, những gánh nặng trần thế như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). “Các con hãy mang lấy ách của Ta”. Đây là kiểu nói bóng trong truyền thống Kinh Thánh nơi các thầy rabbi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai là thầy (x. Hc 51,26; Is 55,1). Chúng ta nhìn nhận và học nơi Thầy Giêsu hiền lành và khiêm nhu, tràn đầy tình thương, nhân từ, tha thứ và liên đới như Thầy đã dạy.
Thật thế, con người sẽ tìm thấy bình an, khi nhìn nhận sự bé nhỏ của mình trước Đấng Tạo Hóa và phó thác vào Ngài, họ sẽ được chính nước Trời khi giữa phong ba, giữa những mỏi mệt của cuộc sống đó là mầu nhiệm nước Trời mà người không tin vào Chúa Giêsu không thể cảm nghiệm.
Ý lực sống
“Hãy để trẻ nhỏ đến với Ta, đừng ngăn cấm chúng vì nước Trời thuộc về chúng” (Mt 19,14).
Tác giả: Linh mục Edmund Power, OSB
Cao Trí biên dịch
TGPSG/Vatican News -- Khi Giáo Hội cử hành Chúa Nhật XIV Thường Niên, cha Edmund Power suy niệm về chủ đề: “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”
Bạn có thấy khó khăn khi phó thác mình cho tình yêu Thiên Chúa không? Tin Mừng hôm nay thật đặc biệt: tôi muốn nói rằng đoạn này dường như là một phần tách biệt, ít có sự liên kết rõ ràng với những gì đi trước và những gì theo sau.
Đức Giêsu vừa khiển trách các thành miền Galilê như Côradin, Bétsaiđa và Caphácnaum vì đã không đáp lại các việc quyền năng Người thực hiện. Rồi đột nhiên, giọng điệu của Người thay đổi hoàn toàn… Như thể Người bước ra khỏi khuôn khổ của Tin Mừng và đứng trước chúng ta.
Lời mở đầu của Người là một lời cầu nguyện dâng lên Chúa Cha, theo phong cách của Tin Mừng thứ tư. Rồi, với một chuyển biến gần như không nhận ra được, lời ấy biến thành một lời mời gọi, nhưng mời gọi ai? Lời Người được cất lên như một lời triệu tập, bao trùm tất cả mọi người không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta!” (Mt 11,28)
Còn bạn, chẳng phải đôi khi tình cờ bạn cũng thấy mình thuộc về số những người ấy hay sao? Cảm thấy được buông bỏ trong niềm tín thác - và để cho mình được nâng đỡ - chẳng phải là điều hấp dẫn hay sao?
Nếu chúng ta đến với Người, chúng ta sẽ tìm được những gì? Có lẽ là nhiều điều khác nhau.
Trước hết là mặc khải về Chúa Cha, vực thẳm của tình yêu sáng tạo mà chỉ Người Con biết trọn vẹn; nhưng Người Con sẵn lòng dẫn đưa chúng ta vào trong sự hiểu biết của Người.
Thứ hai là sự nghỉ ngơi. Trong một thế giới đầy gánh nặng và áp lực, những đòi hỏi và kỳ vọng, những sợ hãi và lo âu, đơn giản là cần sự nghỉ ngơi. Đức Giêsu dường như rất nhạy cảm với nhu cầu nghỉ ngơi của chúng ta: trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, Người nói với các Tông đồ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng và nghỉ ngơi một chút” (Mc 6,31).
Lời Thiên Chúa hôm nay có đang mời gọi chúng ta biết quan tâm hơn đến chính mình nhiều hơn không? Biết đón nhận những nhu cầu đích thực của mình và tìm sự quân bình lành mạnh?
Điều thứ ba mà Chúa ban tặng là sự hiện diện liên lỉ của Người. Người không chỉ mời gọi chúng ta “hãy học với Người”. Xem ra Người còn mời gọi chúng ta nhận ra sự hiện diện của Người.
Ba câu cuối, bắt đầu bằng “hãy đến với Ta”, được bao trùm bởi sự hiện diện của Người: ngay cả về mặt ngữ pháp, vì các đại từ nhân xưng (Ta, Tôi và của Ta) được lặp lại 7 lần, làm thấm đẫm toàn bộ bản văn bằng sự hiện diện ấy. Dù chúng ta làm gì, chúng ta cũng không làm một mình.
Có lẽ ách được nhắc đến hai lần gợi đến Thập Giá: Đức Giêsu đã nói về điều này (Mt 10,38) và sẽ còn nhắc lại (Mt 16,24).
Nhưng điều đáng chú ý ở đây là lời mời gọi đơn sơ: hãy noi gương Người trong sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Liệu còn có điều gì phản văn hóa hơn thế, trong một thế giới của quyền lực chính trị, sức mạnh quân sự và sự tự khẳng định kiêu ngạo? Một lối sống như thế có thể thực sự khả thi hay không?
Chỉ có thể sống được như thế nếu chúng ta tin vào lời Thánh Phaolô trong bài đọc hai: anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thần Khí.
Chỉ có thể sống được như thế nếu chúng ta thực sự trung thành đi theo một vị vua khiêm nhường, cưỡi trên lừa con (Dcr 9,9).
Nếu được như thế, thì có lẽ việc phó thác mình cho tình yêu Thiên Chúa cũng không còn quá khó khăn nữa.
Tin liên quan
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 13 Thường niên năm II (Mt 9,14-17)
- Lời Chúa hằng ngày: Ngày 03/07: Thánh Tôma, Tông đồ - Lễ kính (Ga 20,24-29)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 13 Thường niên năm II - Vững tin vào Chúa (Mt 9,1-8)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Tư tuần 13 Thường niên năm II - Ơn giải thoát (Mt 8,28-34)
- Lời Chúa hằng ngày: Ngày 29/06: Thánh Phêrô và thánh Phaolô, Tông đồ (Mt 16,13-19)
- Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 13 Thường niên năm A (Mt 10,37-42)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 12 Thường niên năm II - Chúa Giêsu chữa lành mọi kẻ ốm đau (Mt 8,5-17)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Sáu tuần 12 Thường niên năm II (Mt 8,1-4)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 12 Thường niên năm II - Thực thi ý Chúa (Mt 7,21-29)
- Lời Chúa hằng ngày: Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gioan Tẩy giả - Sứ mạng cuộc đời (Lc 1,57-66.80)

Bài đăng ngày
-64x64.png)


